Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

Thưởng thức 2 món nước giải khát độc đáo ở Hàng Cót

Theo cảm nhận của tôi thì 36 phố phường được coi là địa điểm du lịch ở hà nội khá nổi tiếng với bạn bè quốc tế nhưng đối với các bạn trẻ ở Hà Nội thì các con phố lại là địa điểm ăn uống thú vị đặc biệt vào buổi tối.

Những quán trà chanh, trà đá, hướng dương tưởng rằng thống trị các con phố cổ Hà nội, nhưng nó bất ngờ bị “xóa sổ” bởi một văn hóa ẩm thực bình dị khác mà cũng không kém phần đặc sắc độc đáo đó chính là nước ngô, mía nướng.

Vào một buổi tối ngày cuối tuần tôi vô tình phát hiện ra văn hóa ẩm thực này khi đang đi dạo qua con phố Hàng Cót. Đặc biệt hơn là có rất nhiều cặp đôi, nhóm bạn trẻ ngồi dài suốt một dọc vỉa hè . Họ vẫn quây quần tám chuyện vui vẻ nhưng bên cạnh không phải trà chanh với đĩa hướng dương quen thuộc, thay vào đó là rổ mía nướng nóng hổi, kèm theo những cốc nước ngô luộc thơm lừng.



Nước ngô, mía nướng phố Hàng Cót.



Quán chỉ bán nước ngô luộc 3.000 đồng/cốc chứ không có trà đá hay trà chanh quen thuộc.



Màu mía xanh và khá đẹp mắt .


Rổ mía nướng 20.000 đồng/2 tấm

Cậu bạn tôi theo nếp cũ mọi ngày, quen miệng gọi cốc trà đá thì cô chủ quán nhoẻn miệng cười: “Chỉ có nước ngô thôi em ơi”. "Nhập gia tùy tục”, chúng tôi hòa mình vào văn hóa nơi đây bằng 2 cốc nước ngô nóng với rổ mía nướng, không quên gọi thêm vài chiếc nem nhâm nhi cho có món mặn.

Nước ngô luộc chắc luôn sẵn sàng nên bưng ra nhanh nhất. Nhưng thứ tôi ngóng hơn cả là mía nướng thì 15 phút… vẫn chưa thấy đâu. Chủ quán trấn an: “Em cứ từ từ, mía phải đợi nướng, nướng xong còn róc và tách khẩu từ từ vì nóng lắm!”. Trong lúc ấy, tôi được bù đắp trước bằng đĩa nem chua.

Nơi đây bán hàng cũng “xuyệt tông”, không theo phong trào nem ngọt rán như mọi quán mà bán nem chua nướng than hoa. Nem cắm vào chiếc que tre nhỏ rồi đặt lên bếp đỏ lửa. Không khô và giòn như nem rán, nem chua nướng mềm mềm, hơi ướt dính, bù lại có vị thơm cháy cạnh và đặc biệt là không dầu mỡ nên ăn chẳng ớn ngấy. Vả lại, lâu lâu đổi món cũng thú vị.



Mía nướng trên than hoa.



Ở đây chỉ bán nem chua nướng 5.000 đồng/chiếc.



Dường như chỉ vỏn vẹn 5-7 cái nem chưa đủ thời gian cho “quy trình” nướng mía. Càng nhìn dàn mía xếp đều ngay ngắn trên bếp, đầu khúc sủi lên những sợi bọt thi thoảng chảy thành giọt cô đặc càng làm tôi nóng lòng, sốt ruột. Chờ đợi lâu nhưng khi nhìn rổ mía mang tới tỏa khói thơm phức thì thấy cũng bõ công. Mía đã chín nên vàng ươm, giòn và dễ cắn hơn hẳn, vị ngọt sâu, không phải kiểu “lịm người” mà rất dễ chịu, đúng vị ngọt tự nhiên, càng ăn càng thích. Nhai chán, “tám” chán, thi thoảng lại nhấp một ngụm nước ngô. Người ấm lên, miệng thơm mà cũng đỡ khô háo, thế là lại có đà để “buôn” tiếp.



Mía nướng đầu khúc sủi lên những sợi bọt, thi thoảng chảy thành giọt cô đặc.





Quả thực, văn hóa ẩm thực vỉa hè chỉ đơn giản thế. Chỗ ngồi nào chẳng giống nhau – dăm cái ghế thấp, một chiếc khay nhựa đặt đồ ăn lên. "Mồi nhắm" không sơn hào hải vị - 20.000 đồng 2 thanh mía nướng, 6.000 đồng cho đôi cốc nước ngô, thêm cả món mặn nem chua 5.000 đồng/chiếc - chỉ vài chục nghìn đã đủ vui hết tối.

Phố Hàng Cót về tối lại rất nhẹ nhàng, thư thả. Được ngồi nhâm nhi, thủ thỉ, rồi phóng mắt ngắm dòng xe, dòng người thưa thớt qua lại - cảm giác thân quen, thú vị ấy đôi khi chỉ tìm thấy ở được ở những góc phố ẩm thực Hà Thành thế này.

Thông tin cho bạn:

Địa chỉ: 44 Hàng Cót, Hoàn Kiếm, Hà Nội.


xem thêm : du lịch cuối tuần gần hà nội

Thưởng thức rắn đặc sản rắn hổ mang của Làng Lệ Mật

Làng Lệ Mật tuy không phải là địa điểm du lịch gần hà nội nhưng bù lại thì nơi đây rất nổi tiếng với các món ăn làm từ rắn thơm ngon và khó có thể quên.

Làng Lệ Mật (Việt Hưng, Long Biên) cách trung tâm Hà Nội khoảng 7 km không rõ từ bao giờ đã nổi tiếng về ẩm thực món rắn. Truyện xưa kể rằng, năm 1072, công chúa Lý Ngọc Hoa, con gái vua Lý Công Uẩn dạo chơi trên sông Thiên Đức (nay là sông Đuống) bị con Giảo Long cuốn trôi. Vào lúc đó chàng trai nghèo làng Lệ Mật sống ở ven sông bằng nghề bắt rắn đã giết con Giảo Long cứu công Chúa.

Đươc vua ban thưởng vàng bạc châu báu nhưng chàng trai nghèo Lệ Mật khước từ chỉ xin vua mảnh đất ở phía bắc kinh thành Thăng Long để khai hoang rồi lập lên 13 làng trại gọi là " Tam Thập Trại". Từ đó có làng Lệ Mật chuyên nghề bắt rắn và nuôi rắn, lấy ngày 23 tháng 3 âm lịch hàng năm là ngày hội làng.



Rắn được nuôi trong khoảng một năm là có thể dùng làm món, ai thích con nào chọn con đấy. Ảnh: Lemat.

Có thời nghề nuôi rắn trở thành nghề chính của làng, cả làng lớn nhỏ ai cũng biết bắt rắn và rắn trở thành món hàng kinh tế làm giàu cho Lệ Mật. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm, đất nông nghiệp mất dần, con rắn của làng từ những ngày xuất khẩu chuyển thành những món ăn trên bàn nhậu và giờ làng rắn hưng thịnh một thời nổi danh với món ngon thịt rắn.

Ai nghĩ đến ăn rắn cũng nghĩ ngay đến Lệ Mật. Qua cầu Long Biên đến đầu Việt Hưng là đến làng. Làng quê giờ không còn cây tre, bến nước, thay vào đó là con đường nhựa chạy xuyên suốt làng với hai bên nhà nào cũng cao tầng.

Rắn để làm món chủ yếu là rắn ráo hay rắn hổ mang bành, tầm hơn một cân. Khách đến ăn rắn được ra chọn rắn trong lồng, thích ăn con nào thì bắt con đấy rồi cân lên và chờ món được dọn lên.



Người ta có thể chế biến rắn thành rất nhiều món ngon, bổ dưỡng.

Con rắn nhỏ nhưng cũng đủ 10 món bưng lên cho khách. Đầu tiên là súp rắn rồi đến chả rắn lá lốt, lòng rắn xào, rắn nộm hoa chuối, xôi rắn, nem rắn, da rắn chiên giòn, rắn tẩm bột, rắn nhồi thịt... Thịt rắn ăn có vị ngọt và được chế biến dễ ăn cùng với các loại gia vị.

Từ lâu, thịt rắn đã được công nhận là một vị thuốc quý với tên là xà nhục. Từ thịt rắn có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon, bổ dưỡng, và các tác dụng chữa bệnh. Thịt rắn được xếp vào hàng những món ăn cao cấp và bổ dưỡng. Món rắn không phải ai cũng ăn được, cẩn thận với trẻ nhỏ và phụ nữ vì có thể bị dị dứng.



Rắn được chế biến lần lượt thành 7 đến 10 món và bưng dần lên, ăn nóng.

xem thêm :du lịch cuối tuần gần hà nội

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Những điểm du lịch ở Hà Nội (P4)

Sau khi mình giới thiệu những địa điểm du lịch ở hà nội phần 1, 2 ,3 thì có lẽ là quá đầy đủ và mọi người đang chìm trong những điểm du lịch thú vị đó. Tuy nhiên đó chưa phải là tất cả , ở phần 4 này mình sẽ giới thiệu thêm 5 địa điểm du lịch nữa cũng không hề kém cạnh đó là:

Khu phố cổ Hà Nội:


Phố cổ hà nội
Khu phố cổ Hà Nội, từng được các du khách phương Tây ví với thành Venice cổ kính, cho đến hôm hay vẫn là khu phố cổ xưa độc đáo ở Việt Nam.

Khu phố cổ Hà Nội thường được gọi là khu 36 phố phường nằm ở trung tâm thành phố Hà Nội, thuộc quận Hoàn Kiếm, có diện tích là 100 ha, được giới hạn phía bắc là đường Hàng Đậu, phía nam là các đường phố Hàng Bông - Hàng Gai - Cầu Gỗ và Hàng Thùng; phía đông là đường Trần Nhật Duật - Trần Quang Khải, phía tây là đường Phùng Hưng.

Nơi đây, xưa là các phường hội thủ công. Mỗi phố mang tên một hàng hoá: Hàng Nón, Hàng Chiếu... Trong khu phố cổ Hà Nội, xen lẫn các ngôi nhà truyền thống là các công trình văn hóa, lịch sử, tôn giáo và các nhà hàng ẩm thực. Khu phố cổ còn giữ được dáng vẻ kiến trúc của dân tộc Việt Nam và châu Á - tạo thành một quần thể kiến trúc độc đáo - nhà cửa san sát, phố xá tấp nập. Nhiều hoạt động trong đời sống hằng ngày của người dân đô thị diễn ra tấp nập: sinh hoạt, bán hàng, sản xuất, vui chơi, nghỉ ngơi, lễ hội, tạo nên sức sống mãnh liệt để khu phố tồn tại và phát triển liên tục.

Hà Nội xưa phân chia thành hai khu vực rõ rệt: khu thành cấm dành cho vua chúa, quan lại và khu buôn bán dành cho dân chúng - chính là khu phố cổ ngày nay. Thời trước, khu phố cổ được hình thành từ một mạng lưới giao thông đường sông với hệ thống kênh rạch tạo bởi các nhánh của sông Hồng và sông Tô Lịch. Những thợ thủ công lành nghề được triều đình tuyển chọn đã lập ra các làng nghề ngay gần khu vực các cổng hoàng thành. Thế kỷ XI, đây đã trở thành một khu phố buôn bán sầm uất với những phường thợ tách biệt chuyên làm một loại mặt hàng. Chính vì vậy, đến ngày nay, thành phố vẫn thường được gọi là Hà Nội - 36 phố phường. Mỗi phường bắt đầu bằng chữ "Hàng" như Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Thiếc, Hàng Giấy, Hàng Mã, Hàng Giầy... “Hàng” tiếng Việt cổ có nghĩa là hàng hóa, và các khu phố được đặt tên theo loại mặt hàng bán nhất định. Một vài khu phố ngày nay vẫn bán những mặt hàng truyền thống đó.

Phố cổ thực sự là khu vực rất hấp dẫn để du khách khám phá. Những ngôi nhà “ống” trong khu vực này là những ngôi nhà bề ngang hẹp và kéo dài về phía sau. Để thấy độ sâu của chúng, có thể xuôi theo những ngõ hẻm giữa các tòa nhà hoặc thăm một trong những cửa hàng trên phố Hàng Gai.

Cuộc sống trên phố cổ hiện tại vẫn diễn ra sôi động. Ngay từ sáng sớm, đường phố đã đông người: người đi làm, người bán hàng, người đi chơi... Những người đàn ông làm những nghề do cha ông truyền lại, các cụ bà trông coi nhà thờ họ, trông cháu hay bán thuốc lá, trông coi nhà cửa... Thậm chí trong những đêm đông giá lạnh, người Hà Nội vẫn có thói quen tụ tập, cùng nhau thưởng thức món ăn.

Phố cổ Hà Nội đang đứng trước những biến động to lớn và phức tạp của sự thích ứng với đời sống xã hội phát triển, làm cho một số ngôi nhà, đoạn phố bị thay thế bởi những khối kiến trúc mới, hiện đại. Song phố cổ vẫn còn đầy vẻ quyến rũ với những ngôi nhà ống nhỏ nhắn, xinh xắn và rêu phong, thấp thoáng ẩn mình trong màu xanh mượt mà và ngọt ngào hương hoa của cây lá. Phố cổ không bao giờ phai mờ vẻ đẹp thuần khiết, thanh tao.

Hồ Tây:


Hoàng hôn Hồ Tây
Có thể coi Hồ Tây là điểm du lịch gần hà nội ,Hồ tây cách trung tâm thủ đô khoảng hơn 10km nhưng không vì thế mà lượng du khách đổ về đây vắng vẻ. Có thể coi Hồ tây là mặt gương của Hà Nội, có diện tích rộng hơn 500 ha với một bề dày lịch sử mấy nghìn năm. Đường vòng quanh hồ dài tới 17km. Ngành địa lý lịch sử đã chứng minh rằng hồ là một đoạn sông Hồng cũ còn rớt lại sau khi sông đã đổi dòng... Có thể do sông hồ biến đổi như vậy mà đã xuất hiện nhiều truyền thuyết về hồ và tên gọi của hồ. Ví như theo truyện "Hồ Tinh" thì có tên là hồ (hoặc đầm) Xác Cáo, vì truyện kể là có một con cáo chín đuôi ẩn nấp nơi đây làm hại dân. Long Quân mới dâng nước lên phá hang cáo, hang sập thành ra hồ.

Theo truyện "Khổng lồ đúc chuông" thì hồ lại có tên là Trâu Vàng. Truyện kể rằng có ông khổng lồ có tài thu hết đồng đen của phương bắc đem đúc thành chuông. Khi thỉnh chuông, tiếng vang sang bên bắc. Vì đồng đen là mẹ vàng nên con trâu vàng phương Bắc nghe tiếng chuông liền vùng đi tìm mẹ. Tới đây nó quần mãi đất, khiến sụt thành hồ. Theo thư tịch thì thế kỷ XI, hồ này đi vào lịch sử với tên là Dâm Đàm (Đầm mù sương), tới thế kỷ XV thì đã gọi là Tây Hồ. Hồ còn có tên là Lãng Bạc, trùng với tên nơi diễn ra những trận đánh ác liệt giữa quân của Hai Bà Trưng và quân Hán ở vùng Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh. Hồ Tây từ lâu lắm đã là thắng cảnh.

Thời Lý - Trần, các vua chúa lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí, như cung Thúy Hoa thời Lý, điện Hàm Nguyên thời Trần nay là khu chùa Trấn Quốc, cung Từ Hoa thời Lý nay là khu chùa Kim Liên, điện Thuỵ Chương thời Lê nay là khu trường Chu Văn An... Những ngày sóng yên gió lặng, chơi thuyền Hồ Tây là một thú tao nhã. Lướt trên sóng hồ nhiều thi sĩ đã có những vần thơ tuyệt tác như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến...

Nếu làm một cuộc đi dạo quanh hồ thì đồng thời cũng được thăm khá nhiều di tích và thắng cảnh. Làng Nghi Tàm, quê hương nhà thơ "Bà huyện Thanh Quan" với chùa Kim Liên có kiến trúc độc đáo; làng Nhật Tân nguồn hoa đào mỗi độ xuân về. Rồi làng Xuân Tảo với đền Sóc thờ Thánh Gióng, làng Trích Sài có chùa Thiên Niên thờ bà tổ nghề dệt lĩnh, sang làng Kẻ Bưởi có nghề làm giấy cổ truyền và đền Đồng Cổ nơi bách quan hội thề thời Lý, làng Thụy Khuê có chùa Bà Đanh nổi tiếng một thời... Và đặc sắc nhất là đền Quán Thánh. Lại còn cả một số công trình nhà ở mới xây dựng bên hồ làm quang cảnh thêm đa dạng. Cùng với hồ Trúc Bạch, Hồ Tây làm giàu thêm chất thơ ở nội thành Hà Nội đồng thời cũng làm giàu cho Hà Nội về kinh tế, vì đó là những vựa cá đem lại nguồn thu lớn.

Ngôi nhà cổ 87 Mã Mây:



Ngôi nhà cổ 87 Mã Mây nằm ở phía bắc hồ Hoàn Kiếm. Phố Mã Mây xưa kia là hai phố: đoạn đầu là phố Hàng Mây chuyên bán song mây, đoạn sau là phố Hàng Mã, thời Pháp thuộc còn có tên Quân Cờ Đen.

Ngôi nhà được xây dựng khoảng cuối thế kỷ XIX. Với kiến trúc kiểu nhà truyền thống: giữa các lớp nhà có sân trong để lấy gió và ánh sáng, tầng một (phần tiếp giáp mặt phố) dùng để bán hàng, phía trong để ở và sản xuất, phần trong cùng là bếp và khu vệ sinh. Tầng hai, phòng ngoài để thờ và tiếp khách, phòng trong là nơi ở. Ngôi nhà còn được giữ lại các chi tiết kiến trúc cổ Hà Nội.

Ngôi nhà được cải tạo, bảo tồn năm 1999 và hoàn thành tháng 10 năm 1999. Ngôi nhà là nơi giới thiệu kiến trúc cổ Hà Nội và gợi ý nhân dân phố cổ cách bảo tồn, tôn tạo nhà cổ.

Ngôi nhà cổ 38 Hàng Đào:



Ngôi nhà 38 Hàng Đào, nguyên là đình Đồng Lạc (đình chợ bán yếm lụa). Đình được xây dựng từ thời Lê (thế kỷ XVII) với quy mô rộng rãi: Nhưng vì chiến tranh, đình bị phá huỷ. Khoảng năm 1856 (niên hiệu Tự Đức, Bính Thìn), ngôi đình này được trùng tu.

Năm 1941 (niên đại Bảo Đại 15), đình được xây dựng lại với quy mô hai tầng. Tầng một sử dụng để ở, điện thờ được đưa lên tầng hai. Trước và sau nhà có sân trồng cây. Ngồi nhà còn giữ lại được tấm bia đá cách đây hơn 150 năm một di vật hiếm có ở các đình Hà Nội) và một số họa tiết trang trí của đình.

Ngôi nhà được cải tạo, bảo tồn từ đầu năm 2000 và khánh thành vào tháng 4 năm 2000. Nơi này giới thiệu kỹ thuật xây dựng truyền thống, kết hợp kỹ thuật tôn tạo hiện đại cũng như những thông tin về bảo tồn, tôn tạo phố cổ.

Ô Quan Chưởng:



Đây là một trong 21 cửa ô còn sót lại của toà thành Thăng Long cũ xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), đến năm Gia Long thứ ba được xây dựng lại và giữ nguyên kiểu cách đến ngày nay.

Hiện cửa ô còn nguyên cửa chính và hai cửa con hai bên, trên tường cửa chính có gắn một tấm đá đặt năm 1882 ghi lệnh cấm người canh gác không được sách nhiễu nhân dân mỗi khi qua lại cửa ô. Bên trên cửa lớn có ba chữ Hán "Đông Hà Môn" tức là cửa ô Đông Hà, tên gọi một phường thời Lê bao gồm khu vực Hàng Chiếu, Thanh Hà, Đào Duy Từ. Cửa ô còn có tên gọi khác là Ô Quan Chưởng.

Tương truyền, tên gọi này bắt nguồn từ sự kiện năm Tự Đức thứ 26, khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội (20-11-1873), chúng kéo quân từ dưới tàu chiến đậu ở bến sông lên, khi bắt đầu qua cửa ô Đông Hà thì vấp phải sức kháng cự quyết liệt của quân Hà Nội do một viên quan chưởng cơ chỉ huy và bị thiệt hại khá nặng. Về sau Pháp có thêm viện binh.

Kết cục, viên chưởng cơ cùng toàn thể binh lính gồm một trăm người đều anh dũng hy sinh. Để tỏ lòng ngưỡng mộ người chưởng cơ anh dũng, nhân dân đổi gọi cửa ô là ô Quan Chưởng.

Tuy nhiên, sự kiện năm 1873 cho đến nay vẫn chưa được xác minh. Vì vậy, tên ô Quan Chưởng vẫn còn đó như một tồn nghi.





Mộc Châu địa điểm du lịch thú vị

Nhắc đến Mộc Châu thì không thể nào không nhắc đến những cánh đồng phủ trắng hoa, những đồi chè bát ngát mênh mông và đặc biệt đây cũng là nơi cung cấp sữa bò lớn nhất cả nước. Mộc Châu được coi là địa điểm du lịch gần hà nội khá hấp dẫn và thú vị với không gian thoáng mát .
Khu Cao nguyên Mộc Châu nằm ở độ cao 1050 m so với mặt biển, cách Hà Nội gần 200 km về phía Tây Bắc theo quốc lộ 6. Đây là cao nguyên lớn trải dài khoảng 80 km, rộng 25 km, với 1600 ha đồng cỏ.
Có thể nói Mộc Châu là nơi tập trung nhiều nhất tài nguyên du lịch của Sơn La và vùng núi Tây Bắc - Bắc Bộ. Khí hậu là tài nguyên du lịch đặc biệt có tính đặc thù của Mộc Châu. Ở giữa cao nguyên Mộc Châu là một vùng tiểu khí hậu với mùa hè mát mẻ có nhiệt độ trung bình là 20 độC và mùa đông khô ráo hơn các vùng khác.



Cách Mộc Châu khoảng 40 km về phía nam có khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha - Sốp Cộp, nơi đây có nhiều rừng nguyên sinh và nhiều thú quý hiếm như hổ,gấu ngoài ra còn nhiều loài khác như khỉ, vượn, gà đồi, ... là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái.
Sản phẩm du lịch tiêu biểu của cụm du lịch Mộc Châu là du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí; du lịch tham quan các cảnh quan, danh thắng; du lịch điền giã; du lịch văn hoá, lễ hội các dân tộc; và du lịch đường sông.
Đến với Mộc Châu du khách sẽ được tham quan các di tích lịch sử, động Sơn Mộc Hương, rừng thông, chùa Chiền Viên, thác Dải Yếm, đỉnh Phiêng Luông, và các bản văn hóa của người Mông, người Dao ở Vân Hồ, với những câu hát điệu múa khèn, với các món ăn dân tộc, đặc sản, ẩm thực và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm bản sắc văn hoá lâu đời.
Động Sơn Mộc Hương nằm sát ngay trung tâm huyện lỵ, đi theo tuyến đường tương đối cheo leo qua những vườn mận, vườn mơ sẽ tới cửa động. Từ cửa động có thể quan sát cả thị trấn Mộc Châu. Bên trong động là những cấu trúc nhũ, tạo cho người xem cảm giác như lạch vào thế giới thần tiên.
Đi theo tuyến đường huyện lỵ 2 km, du khách có thể đến một khu đồi thông già có quang cảnh đẹp trên những đồi bát úp thấp. Nơi đây rất gần thị trấn, đường giao thông thuận tiện nên rất thích hợp cho loại hình cắm trại, picnic. Trong tương lai tại đây có thể xây dựng một sân golf lý tưởng.

Từ ngã ba cửa khẩu Pa Háng, đi bằng ô tô theo đường chính, hoặc dọc theo suối, khoảng 4 km đến chỗ hợp lưu hai con suối là một thác nước hùng vĩ. Tương truyền trong dân gian dòng thác này là dải yếm của người con gái cứu chàng trai thoát khỏi dòng lũ. Tuy thác nằm thấp hơn đường nhưng hai thác đổ xuống với chiều cao 100 m, một bên được chia làm 9 tầng, bên còn lại 5 tầng. Hai thác nằm cách nhau khoảng 200 m, nhưng trong khoảng cách đó là một bãi đất phẳng rất thuận tiện cho việc tập kết của khách thăm quan.
Ở Mộc Châu có nhà máy chè chuyên sản xuất để xuất khẩu và phục vụ nhu cầu trong nước. Nông trường Mộc Châu được thành lập năm 1958, với hàng ngàn con bò sữa giống là nơi cung cấp sữa bò lớn nhất trong cả nước và là một trong những trung tâm trồng chè lớn của cả nước. Khách du lịch đến đây sẽ được chiêm ngưỡng những cánh đồng nguyên liệu mênh mông, với những vườn mận hoa trắng.

Đỉnh Phiêng Luông nằm cách Mộc Châu 15 km về phía Đông có đỉnh Phiêng Luông với độ cao 1500 m. Trên đỉnh có một khu đát bằng phẳng rộng gần 10 ha rất thích hợp cho những môn thể thao như đi ngựa, đi bộ hoặc leo núi .
Đồi chè bát ngát
Ngoài ra, du khách có thể đi du lịch đường sông, xuống Chiềng Yên, tham quan sông Đà hoặc du khách đi du lịch quá cảnh sang Lào. Từ Mộc Châu xuống thẳng cảng sông Vạn Yên, nơi xuất phát tuyến du lịch sông Đà, đi du thuyền du khách sẽ được chiêm ngưỡng nhiều cảnh đẹp trên tuyến du lịch sông Đà kéo dài đến Thị Xã Sơn La hoặc xuôi xuống thủy điện Hoà Bình. Mộc Châu có cửa khẩu Pa Háng sang Hủa Phăn (CHDCND Lào). Đoạn Mộc Châu - Pa Háng được mở rộng và nâng cấp thành quốc lộ. Đây là điều kiện thuận lợi cho khách du lịch tham quan môi trường tự nhiên Lóng Sập, Xuân Nha và nối tuyến sang Thị Xã Sầm Nưa.
Khu Lóng Luông, Vân Hồ - Mộc Châu là nơi cư trú nhiều đồng bào dân tộc Mông, giao thông đến các bản thuận tiện, cho phép phát triển một số làng văn hoá, tổ chức lễ hội dân tộc và các hoạt động ăn hoá đặc trưng của dân tộc Mông. Khu bản Áng đặc trưng cho bản sắc dân tộc Thái. Tại đây có một khu quần ngựa và có thể đi thuyền vào hai khu rừng tại km số 45 và Chiềng Sại, nơi đây người Thái - Mộc Châu và người Lào có cùng một ngôn ngữ.
Hy vọng Mộc Châu sẽ là một điểm đến lý tưởng cho sự lựa chọn của bạn.
Xem thêm : điểm du lịch ở hà nội

Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2014

Tham quan những địa điểm du lịch ở Hà Nội (P3)

Lần trước tôi đã giới thiệu cho mọi người thêm 4 điểm du lịch gần hà nội đầy hấp dẫn. Hôm nay tôi xin giới thiệu thêm 6 địa điểm du lịch cũng không hề kém cạnh và thú vị.

Phủ Chủ tịch:


Phủ Chủ tịch là toà nhà bốn tầng nhìn ra đường Hùng Vương, được xây dựng năm 1901. Thời Pháp thuộc, đây là nơi ở và làm việc của Toàn quyền Pháp ở Đông Dương (có tên là Phủ Toàn quyền). Hiện nay, địa điểm này là nơi các vị đứng đầu Nhà nước ta tiếp đón các đoàn khách quan trọng nước ngoài và là nơi để các đại sứ các nước đến trình quốc thư.

Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp Hội đồng Chính phủ.

Quảng trường Ba Đình:

Quảng trường Ba Đình
Hà Nội là trái tim của nước Việt Nam, Quảng trường Ba Đình là trái tim của Hà Nội. Tại đây đã diễn ra những sự kiện trọng đại của thủ đô và cả nước. Ngày trước, đây vốn là khu vực cửa tây của thành Hà Nội cổ. Thực dân Pháp phá thành làm một vườn hoa nhỏ gọi là điểm tròn Puy-gi-ni-nơ. Năm 1945 mới có tên là vườn hoa Ba Đình. Chữ Ba Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hoá, nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9 -1886 đến tháng 1-1887.

Quảng trường là nơi chứng kiến hàng trăm nghìn người về dự lễ Độc lập ngày 2-9-1945. Ngày 9-9-1969, sáu ngày sau khi Hồ Chủ tịch qua đời, tại Quảng trường này, đồng bào thủ đô và các địa phương cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế đã tới đây dự lễ truy điệu trọng thể vị Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất.

Ngày nay, mặt chính của quảng trường là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước lăng là khoảng không gian rộng lớn với 320m chiều dài và 100m chiều rộng, đủ chỗ cho 200 nghìn người dự mít tinh. Quảng trường có 168 ô cỏ bốn mùa xanh tươi. Chính giữa là cột cờ. Quảng trường Ba Đình đã trở thành không gian thiêng liêng của thủ đô Hà Nội.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Đã đến quảng trường Ba Đình thì không thể không vào thăm quan Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Lăng là nơi giữ gìn thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có mặt chính nhìn ra Quảng trường Ba Đình lịch sử. Đây là kết quả lao động sáng tạo của các nhà khoa học Nga và Việt Nam. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi an nghỉ vĩnh hằng của người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Lăng chính thức được khởi công ngày 2/9/1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa quảng trường Ba Đình, nơi Bác Hồ đã từng chủ tọa các cuộc mít tinh lớn.

Lăng được khánh thành vào ngày 29/8/1975. Toàn bộ khu di tích lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh rộng 14ha. Lăng cao 21,6m gồm ba lớp. Lớp dưới tạo dáng bậc thềm là lễ đài dành cho Đoàn Chủ tịch trong các cuộc mít tinh. Lớp giữa, phần trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông ốp đá hoa cương, nhìn từ bên ngoài, mặt nào cũng thấy năm khoảng đều nhau, gợi nhớ ngôi nhà năm gian truyền thống Việt Nam. Lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp bằng đá hồng ngọc mầu mận chín. Nhìn tổng thể lăng có hình bông hoa sen cách điệu.

Trước mặt lăng có cột cờ cao 30m. Hàng tre ngà hai bên biểu tượng hình ảnh làng quê Việt Nam. Hai bên trái và phải ở mặt trước lăng được trồng 18 cây vạn tuế (mỗi bên chín cây). Vào gần hơn, hai bên cửa lăng là hai cây đại, tượng trưng cho sự trong sáng, thanh cao của Bác Hồ.

Ở mặt chính lăng có dòng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá hồng ngọc màu mận chín. Hai bên lăng là vườn cây, hoa quả tiêu biểu của các vùng quê Việt Nam bốn mùa tươi tốt, quần tụ toả bóng mát và trổ hoa.

Bước vào phòng ngoài, trước mặt trên tường đá hoa cương màu đỏ sẫm có hàng chữ vàng óng ánh "Không có gì quí hơn độc lập tự do", dưới đó là chữ ký quen thuộc của Bác.

Lên hết cầu thang là tới phòng thi hài, nơi Bác an nghỉ. Phía đầu Bác nằm, trên nền tường ốp đá trắng gắn nổi hình cờ Đảng và cờ Tổ quốc. Hòm kính có thi hài Bác bên trong đặt trên đài hoa đước ghép bằng đá đen huyền lấp lánh muôn ngàn hạt sáng. Cách bố trí lối đi từ ba phía cho phép mọi người chiêm ngưỡng Bác được lâu hơn, lối đi rộng, nên nhiều người cùng lúc đều được nhìn thấy Bác. Qua lớp kính trong suốt, Bác như vừa ngả lưng chợp mắt. Vẫn bộ quần áo ka-ki bạc mầu, dưới chân Bác vẫn là đôi dép cao su giản dị.

Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh là nơi an nghỉ vĩnh hằng của Người, là biểu tượng lòng tôn kính và biết ơn vô hạn của dân tộc Việt Nam đối với lãnh tụ của mình.

Nhà sàn Bác Hồ:
Nhà sàn Bác Hồ
Trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, có một con đường hẹp trải sỏi, hai bên trồng xoài dẫn tới một ngôi nhà sàn nhỏ nhắn bình dị, nằm giữa những vòm cây. Hàng rào dâm bụt bao quanh nhà, cổng vào kết bằng cành cây đan xen nhau. Đó là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17-5-1958 cho tới khi Người qua đời.

Tầng dưới nhà sàn là nơi Bác thường họp với Bộ Chính trị. Tầng trên là hai phòng nhỏ, nơi Bác làm việc và phòng ngủ với những vật dụng đơn sơ giản dị. Trước nhà là ao cá Bác nuôi, bên bờ ao là các loài hoa phong lan nở quanh năm.

Nhân dân từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng lăng, thăm nhà ở của Bác và đi dạo quanh Quảng trường Ba Đình lịch sử.

Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng, như cây vú sữa của đồng bào miền nam gửi biếu Bác năm 1954, bưởi Phúc Trạch, Biên Hòa, Mê Linh; cam Hải Hưng, Xuân Mai, Vân Du, Xã Đoài; quýt Hương Cần, Lý Nhân; táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ; song mai Đông Mỹ; hồng Tiên Điền (quê hương nhà thơ Nguyễn Du). Trong vườn còn có cả những loại cây từ nước ngoài như ngân hoa, cây bụt mọc quanh ao, cây cau vua gốc từ Caribê.

4 địa điểm  trên có thể coi là điểm du lịch cuối tuần gần hà nội vì vào những ngày thứ 7 hoặc Chủ nhật thì người dân cũng tụ họp về đây rất đông.

Nhà Hát Lớn:

Nhà Hát lớn Hà Nội
Nhà hát lớn Hà Nội là công trình văn hoá vào bậc nhất nước ta được xây dựng vào năm 1902 và khánh thành năm 1911.

Tổng diện tích nhà hát là 2600m2. Nội thất hiện đại, thoả mãn các yêu cầu biểu diễn và thưởng thức nghệ thuật, các hoạt động văn hoá lớn trong và ngoài nước. Nhà hát đã được tu bổ, nâng cấp và hoạt động rất hiệu quả với phương châm: mở rộng giao lưu quốc tế và giữ gìn, phát huy những giá trị văn hoá dân tộc. Tại đây, luôn luôn diễn ra những sự kiện văn hoá lớn của thủ đô và đất nước, các buổi tiếp khách quan trọng, các cuộc mít tinh, hội thảo, giao lưu văn hoá.

Thư viện quốc gia:

Nằm trên phố Tràng Thi, Thư viện Quốc gia là thư viện tổng hợp lớn nhất của Việt Nam. Thành lập khoảng năm 1919 và mang tên toàn quyền Đông Dương Pi-e Pát ki ơ, vào lúc phát triển nhất (năm 1939), thư viện có 92.163 cuốn sách, trong đó khoảng hai phần mười là sách tiếng Việt.

Năm 1954, được cải tổ thành Thư viện trung ương, với vốn sách báo cũ, cộng với vốn sách báo của thư viện của Chính phủ đưa từ chiến khu Việt Bắc về chừng 180 nghìn cuốn.

Ngày 26-6-1957, Thư viện trung ương được chính thức mang tên Thư viện quốc gia Việt Nam, đồng thời cũng là cơ quan lưu chiểu sách báo in trong nước. Bốn chục năm qua, Thư viện quốc gia Việt Narn không ngừng bổ sung sách báo trong nước và nước ngoài.

Hiện nay, đã có hơn một triệu cuốn sách, bảy nghìn loại báo và tạp chí tiếng Việt và các thứ tiếng khác. Các luận án tiến sĩ của cán bộ khoa học Việt Nam, được bảo vệ trong nước và ngoài nước, cũng tập trung ở đây.

Đây là một trong những trung tâm văn hoá Việt Nam có những mối liên hệ quốc tế rộng rãi nhất, thường xuyên trao đổi sách báo với hơn 300 thư viện cơ quan khoa học lớn của 100 nước trên thế giới.

Thư viện quốc gia Việt Nam là thành viên của Hiệp hội Quốc tế các thư viện (LFLA). Bằng những trao đổi và hợp tác đã thu thập được hàng trăm nghìn sách báo của nước ngoài có giá trị thuộc nhiều lĩnh vực.Những phòng đọc thoáng mát, những nơi tra cứu và mượn sách thuận tiện, những phương tiện sao chụp của thư viện ngày càng hoàn thiện.

Thư viện thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện về đời sống, kinh tế, văn hoá, lịch sử, khoa học kỹ thuật công nghệ, các danh nhân...phục vụ bạn đọc. Diễn giả là các nhà khoa học, văn nghệ sĩ danh tiếng. Thư viện quốc gia Việt Nam còn là cơ quan hướng dẫn nghiệp vụ cho hệ thống thư viện trong cả nước.