Hiển thị các bài đăng có nhãn địa điểm du lịch ở hà nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn địa điểm du lịch ở hà nội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

Những địa điểm du lịch ở Hà Nội ( Phần cuối)

Qua chia sẻ những địa điểm du lịch ở hà nội phần 1, 2,3,4 thì có lẽ đó là đủ cho mọi người đi tham quan du lịch trong vòng từ 1 đến 2 tuần .Tuy nhiên đó chưa phải là tất cả , ở phần cuối này mình xin chia sẻ 5 ngôi Đền gắn liền với những vị vua, anh hùng lịch sử của dân tộc mà mọi người không nên bỏ qua khi đến Hà Nội.

Đền Kim Liên:



Đền Kim Liên là một trấn ở phía nam thành Thăng Long, cùng với đền Quán Thánh trấn phía bắc (còn gọi là Trấn Vũ), đền Bạch Mã ở phía đông, đền Voi Phục phía tây (còn gọi là Thủ Lệ, Linh Lang) họp thành Thăng Long tứ trấn tạo nên ý nghĩa và tầm vóc của mảnh đất kinh kỳ.Đền trước đây thuộc địa phận phường Kim Hoa, sau thuộc phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức nay là phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Đình thờ thần Cao Sơn.

Tương truyền thần đã có công giúp Sơn Tinh chiến thắng Thuỷ Tinh và sau này lại giúp vua Lê Tương Dực dẹp loạn, khôi phục nhà Lê. Do đó vua Lê cho xây đền, dựng bia để hương khói phụng thờ. Chịu tác động của thăng trầm lịch sử, đến nay đền không còn nguyên dạng (toàn bộ nhà bái đường đã bị tàn phá), chỉ còn lại nhà hậu đường ba gian, tam quan, cổng gạch và hai giải vũ. Tam quan và đền xây trên gò đất cao, từ sân bước lên phải qua chín bậc gạch, hai bên thềm là hai sấu đá niên đại thời Lê. Tam quan xây thành nhà hoàn chỉnh, kiểu tường hồi bít đốc. Bốn góc tường hồi có bốn cột trụ, bốn bộ vì đỡ mái làm theo kiểu chồng giường, giá chiêng, cột trốn. Các con giường chạm nổi hình mây cuốn, câu đầu và hai bẩy hai vì ngoài chạm bong kênh và chạm lộng nhiều lớp hình tứ linh. Trong đền vẫn còn long ngai thờ thần Cao Sơn và hai nữ thần phối hưởng: Thuỷ Tinh đệ Tam Tôn nữ và Huệ Minh phu nhân (không rõ sự tích). Đền còn giữ được 39 đạo sắc phong trong đó 26 đạo thời Lê Trung Hưng, 13 đạo thời Nguyễn, ngoài ra là các câu đối, bia đá trong hốc cây có bài văn bia của Lê Trung Hưng.

Đền Voi Phục:

Sở dĩ gọi là đền Voi Phục vì tại cửa đền có đắp hai con voi quỳ ngay ở cổng đi vào. Đền còn có tên là đền Thủ Lệ; Linh Lang do thờ thần Linh Lang đại vương. Đền nằm phía tây kinh thành Thăng Long cũ, nay thuộc phường Cầu Giấy, quận Ba Đình, Hà Nội. Đền là một trong "Thăng Long tứ trấn", được dựng năm Chương Thánh Gia Khánh thứ bảy (1065) đời vua Lý Thánh Tông. Tương truyền Linh Lang là con trai thứ tư của ông.

Trong đền có hai pho tượng đồng và hòn đá to có vết lõm, tương truyền là nơi Linh Lang nằm gối đầu lên rồi hoá thành con giao long và trườn xuống hồ. Đầu năm 1994, nhân dân Thủ Lệ quyên góp đúc lại quả chuông chiều cao 93cm, đường kính miệng 70cm, thân chia 4 múi, mỗi múi có hai hàng chữ Hán đúc nổi: "Tây trấn thượng đẳng".

Đường vào đền có nhiều cây cổ thụ, đền được xây cạnh hồ Thủ Lệ, có khuôn viên rộng rãi, cây cối xanh um tùm nên được coi là một cảnh đẹp của thủ đô Hà Nội.

Đền Quán Thánh:

Đền hiện ở ngã tư đường Thanh Niên và đường Quán Thánh, đời Lê thuộc đất phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận, phía nam Hồ Tây. Đền được lập từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (năm 1010). Vua cho rước bài vị của thần về ở phía tây bắc thành, gọi là Huyền Thiên Trấn Vũ đại đế quán. Quán là nơi thờ tự của đạo Giáo, dân chúng quen gọi là đền Trấn Vũ hoặc đền Quán Thánh.

Sự tích đền cho biết: Huyền Thiên Trấn Vũ là thần cai quản phương bắc giúp dân trừ tà ma, yêu quái phá hoại đời sống yên lành vùng chung quanh thành Thăng Long: trừ rùa thành tinh (đời Hùng Vương 14), trừ cáo chín đuôi ở Tây Hồ, giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa, diệt hồ ly tinh trên sông Hồng đời vua Lý Thánh Tông... Đến thời nhà Lê, các vua cũng thường đến đây để cầu mưa mỗi khi có hạn hán. Ngôi đền hiện nay đã được sửa chữa nhiều lần.

Năm Đinh Tỵ niên hiệu Vĩnh Trị II (1677), đời Lê Hy Tông, chúa Trịnh Tạc sai đình thần là Nguyễn Đình Luân trùng tu. Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ được triều đình cho đúc lại bằng đồng đen (hun). Tượng cao khoảng 3,96m, chu vi 8m. Tượng mặt vuông, mắt nhìn thẳng, râu dài, tóc xoã không đội mũ, mặc áo đạo sĩ, ngồi trên bục đá, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm có rắn quấn và chống lên lưng một con rùa. Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo, đánh dấu kỹ thuật đúc đồng và tài nghệ của dân ta cách đây ba thế kỷ. Tại nhà bái đường còn một pho tượng nữa, nhỏ hơn, cũng bằng đồng đen, nhiều người cho rằng đây là tượng ông Trùm Trọng, người thợ cả đã chỉ huy việc đúc pho tượng Trấn Vũ. Tượng này là do các học trò của ông đúc để ghi nhớ công ơn thầy. Cùng đúc với tượng là quả chuông cao gần 1,5m treo ở gác tam quan. Văn bia tại đền do trạng nguyên Đặng Công Chất và tiến sĩ Hồ Sĩ Dương soạn. Thời Tây Sơn, đô đốc Lê Văn Ngữ, cùng nhiều người nữa đã quyên tiền đúc chiếc khánh bằng đồng (1,10m x 1,25m) vào năm Cảnh Thịnh thứ hai. Đến thời Nguyễn, vua Minh Mạng đến thăm đền, đã cấp tiền tu sửa. Năm 1923, cho đổi là Trấn Vũ quán.

Năm 1856, bố chánh Sơn Tây là Phạm Xuân Quế, bố chánh Hà Nội là Tôn Thất Giáo, tri huyện Vĩnh Thuận là Phan Huy Khiêm đã tổ chức quyên góp trùng tu, sửa lại chính điện, đình thiêu hương, bái đường và gác chuông, làm thêm hai dãy hành lang bên phải và bên trái, đắp lại bốn pho tượng đại nguyên soái, tượng thần Đương Niên hành khiển, Văn Xương Đế Quân và dời xuống hậu đường phía sau. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm và dâng một đồng tiền vàng, cộng với số tiền vàng do các hoàng thân dâng, đúc lại thành vòng. Vòng dùng sợi dây bạc xâu để treo ở cổ tay tượng thần. Đằng sau đền lại đắp hòn núi non bộ trong một bể con và dựng một đền nhỏ gọi là Vũ Đương Sơn. Sửa chữa xong, có dựng bia do tiến sĩ Lê Hy Vĩnh soạn. Đền hiện nay có sáu bia, kiến trúc, trang trí của đền hiện nay mang phong cách thời Nguyễn.

Đền Bạch Mã:

Đền thuộc phường Hà Khẩu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, nay là 76 Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đền thờ thần Long Đỗ tức Bạch Mã, vị thần bảo hộ kinh thành Thăng Long. Theo một bộ sách soạn ở thế kỷ XIV thì chính thần Bạch Mã đã cảnh cáo Cao Biền, một viên quan Trung Quốc, sang cai trị, khoảng thời gian từ năm 866 đến năm 875, khiến y sợ hãi phải lập đền thờ. Một truyền thuyết khác kể thêm: khi vua Lý Công Uẩn định đô Thăng Long (1010), xây thành mà cứ bị sụt lở, ông tới đây cầu lễ và lạ thay, một buổi sáng chợt thấy có con ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy vòng quanh khu vực đang xây thành, chạy đến đâu để dấu chân đến đấy rồi trở lại đền và vụt biến. Vua Lý cứ theo vết chân ngựa mà xây, thành không lở nữa. Vua bèn phong thần Long Đỗ làm thành hoàng bảo vệ cho Thăng Long. Từ đó thần có thêm tên là Bạch Mã.

Đền đã được sửa chữa nhiều lần, cuối thế kỷ XVII được tôn nền cũ và mở rộng. Năm 1781, chúa Trịnh cho dân các giáp Mật Thái, Bắc Thượng, Bắc Hạ thuộc phường Hà Khẩu chung quanh đền Bạch Mã được "tạo lệ" (sắm lễ vật tế, không phải sưu sai, tạp dịch khác). Năm 1829, sửa chữa đền thêm tráng lệ. Năm 1839, dựng văn chỉ ở bên trái đền, dựng Phương đình để làm nơi cúng lễ các tuần tiết. Trong đền hiện nay còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật có giá trị như 15 văn bia (nội dung các văn bia đề cập sự tích của đền, thần, nghi lễ cúng thần, các lần trùng tu tôn tạo), đồ thờ gồm các vũ khí thời cổ như xích, đao, thương, câu liêm... được sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo. Trong đền, cùng với các lư hương đồng, bình đồng, còn có tượng Phật và một đôi hạc, đôi phỗng trong tư thế đứng trang nghiêm.

Lễ hội đền hằng năm vào tháng hai âm lịch, trước đây có tổ chức lễ đánh trâu rước xuân.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám:


Văn Miếu - Quốc Tử Giám là trường học cổ của kinh thành Thăng Long và là trường đại học đầu tiên ở vùng Đông Nam Á. Văn Miếu không những là một di tích lịch sử - văn hoá cổ kính, mà còn là nơi tổ chức các hoạt động văn hoá, khoa học đậm đà bản sắc dân tộc của thủ đô Hà Nội.

Văn Miếu được xây dựng tháng 8 năm Canh Tuất, tức tháng 10 năm 1070 (đời vua Lý Thánh Tông) là nơi thờ các thánh hiền đạo nho (Khổng Tử, Mạnh Tử...). Sáu năm sau (1076), Lý Nhân Tông lập thêm Quốc Tử Giám ở kề phía sau, ban đầu là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả những học trò giỏi trong thiên hạ. Văn Miếu có tường bao quanh xây bằng gạch Bát Tràng. Bên trong có những lớp tường ngăn thành năm khu. Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính. Trên cổng có chữ Văn Miếu Môn, dưới cổng có đôi rồng đá mang phong cách thời Lê Sơ (thế kỷ XV).

Lối đi ở giữa dẫn đến cổng Đại Trung Môn mở đầu cho khu thứ hai. Hai bên còn có hai cổng nhỏ có tên là Thành Đức và Thành Đạt. Vẫn lối đi ấy dẫn tới Khuê Văn Các (gác vẻ đẹp của sao khuê, sao chủ về văn học). Hai bên gác có hai cổng nhỏ có tên là Súc Văn và Bí Văn (Văn hàm súc và Văn sáng đẹp).

Khu thứ ba từ gác Khuê Văn tới Đại Thành Môn. Ở giữa khu này có một hồ vuông gọi là Thiên Quang Tỉnh (Giếng trời trong sáng) có tường hoa bao quanh. Hai bên là khu nhà bia (nơi dựng bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ). Hiện nay có 82 bia, xưa nhất là bia ghi khoa Đại Bảo thứ ba (năm 1442), muộn nhất là bia Cảnh Hưng thứ 40 (năm 1779). Đó là những di vật quý nhất của khu di tích này.

Bước qua cửa Đại Thành là tới khu thứ tư. Một sân rộng, hai bên là hai dãy nhà tả vu, hữu vu, vốn dùng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà Đại Bái, kiến trúc đẹp và hoành tráng.

Tại đây có một số hiện vật quý: bên trái có chuông Bích Ung đại chung (chuông lớn của nhà Giám) do Nguyễn Nghiễm đúc năm 1768; bên phải có một tấm khánh đá, mặt trong có hai chữ Thọ Xương, mặt ngoài khắc bài minh viết kiểu chữ lệ, nói về công dụng của loại nhạc khí này. Tiếp sau Đại Bái là Hậu Cung nơi đặt tượng Khổng Tử và bốn môn đệ là Nhan Tử, Tăng Tử, Mạnh Tử, Tử Tư. Sau khu Đại Bái vốn là trường Quốc Tử Giám thời Lê, khi nhà Nguyễn chuyển trường này vào Huế thì ở đây dựng đền Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử. Năm 1947, giặc Pháp đã đốt trụi khu này.

Ngày nay, thành phố Hà Nội đã lập tại đây "Trung tâm hoạt động văn hoá - khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám" để phát huy tác dụng của di tích.

Chúc các bạn có những chuyến đi vui vẻ. 

xem thêm :điểm du lịch gần hà nội

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

Thưởng thức 2 món nước giải khát độc đáo ở Hàng Cót

Theo cảm nhận của tôi thì 36 phố phường được coi là địa điểm du lịch ở hà nội khá nổi tiếng với bạn bè quốc tế nhưng đối với các bạn trẻ ở Hà Nội thì các con phố lại là địa điểm ăn uống thú vị đặc biệt vào buổi tối.

Những quán trà chanh, trà đá, hướng dương tưởng rằng thống trị các con phố cổ Hà nội, nhưng nó bất ngờ bị “xóa sổ” bởi một văn hóa ẩm thực bình dị khác mà cũng không kém phần đặc sắc độc đáo đó chính là nước ngô, mía nướng.

Vào một buổi tối ngày cuối tuần tôi vô tình phát hiện ra văn hóa ẩm thực này khi đang đi dạo qua con phố Hàng Cót. Đặc biệt hơn là có rất nhiều cặp đôi, nhóm bạn trẻ ngồi dài suốt một dọc vỉa hè . Họ vẫn quây quần tám chuyện vui vẻ nhưng bên cạnh không phải trà chanh với đĩa hướng dương quen thuộc, thay vào đó là rổ mía nướng nóng hổi, kèm theo những cốc nước ngô luộc thơm lừng.



Nước ngô, mía nướng phố Hàng Cót.



Quán chỉ bán nước ngô luộc 3.000 đồng/cốc chứ không có trà đá hay trà chanh quen thuộc.



Màu mía xanh và khá đẹp mắt .


Rổ mía nướng 20.000 đồng/2 tấm

Cậu bạn tôi theo nếp cũ mọi ngày, quen miệng gọi cốc trà đá thì cô chủ quán nhoẻn miệng cười: “Chỉ có nước ngô thôi em ơi”. "Nhập gia tùy tục”, chúng tôi hòa mình vào văn hóa nơi đây bằng 2 cốc nước ngô nóng với rổ mía nướng, không quên gọi thêm vài chiếc nem nhâm nhi cho có món mặn.

Nước ngô luộc chắc luôn sẵn sàng nên bưng ra nhanh nhất. Nhưng thứ tôi ngóng hơn cả là mía nướng thì 15 phút… vẫn chưa thấy đâu. Chủ quán trấn an: “Em cứ từ từ, mía phải đợi nướng, nướng xong còn róc và tách khẩu từ từ vì nóng lắm!”. Trong lúc ấy, tôi được bù đắp trước bằng đĩa nem chua.

Nơi đây bán hàng cũng “xuyệt tông”, không theo phong trào nem ngọt rán như mọi quán mà bán nem chua nướng than hoa. Nem cắm vào chiếc que tre nhỏ rồi đặt lên bếp đỏ lửa. Không khô và giòn như nem rán, nem chua nướng mềm mềm, hơi ướt dính, bù lại có vị thơm cháy cạnh và đặc biệt là không dầu mỡ nên ăn chẳng ớn ngấy. Vả lại, lâu lâu đổi món cũng thú vị.



Mía nướng trên than hoa.



Ở đây chỉ bán nem chua nướng 5.000 đồng/chiếc.



Dường như chỉ vỏn vẹn 5-7 cái nem chưa đủ thời gian cho “quy trình” nướng mía. Càng nhìn dàn mía xếp đều ngay ngắn trên bếp, đầu khúc sủi lên những sợi bọt thi thoảng chảy thành giọt cô đặc càng làm tôi nóng lòng, sốt ruột. Chờ đợi lâu nhưng khi nhìn rổ mía mang tới tỏa khói thơm phức thì thấy cũng bõ công. Mía đã chín nên vàng ươm, giòn và dễ cắn hơn hẳn, vị ngọt sâu, không phải kiểu “lịm người” mà rất dễ chịu, đúng vị ngọt tự nhiên, càng ăn càng thích. Nhai chán, “tám” chán, thi thoảng lại nhấp một ngụm nước ngô. Người ấm lên, miệng thơm mà cũng đỡ khô háo, thế là lại có đà để “buôn” tiếp.



Mía nướng đầu khúc sủi lên những sợi bọt, thi thoảng chảy thành giọt cô đặc.





Quả thực, văn hóa ẩm thực vỉa hè chỉ đơn giản thế. Chỗ ngồi nào chẳng giống nhau – dăm cái ghế thấp, một chiếc khay nhựa đặt đồ ăn lên. "Mồi nhắm" không sơn hào hải vị - 20.000 đồng 2 thanh mía nướng, 6.000 đồng cho đôi cốc nước ngô, thêm cả món mặn nem chua 5.000 đồng/chiếc - chỉ vài chục nghìn đã đủ vui hết tối.

Phố Hàng Cót về tối lại rất nhẹ nhàng, thư thả. Được ngồi nhâm nhi, thủ thỉ, rồi phóng mắt ngắm dòng xe, dòng người thưa thớt qua lại - cảm giác thân quen, thú vị ấy đôi khi chỉ tìm thấy ở được ở những góc phố ẩm thực Hà Thành thế này.

Thông tin cho bạn:

Địa chỉ: 44 Hàng Cót, Hoàn Kiếm, Hà Nội.


xem thêm : du lịch cuối tuần gần hà nội

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Những điểm du lịch ở Hà Nội (P4)

Sau khi mình giới thiệu những địa điểm du lịch ở hà nội phần 1, 2 ,3 thì có lẽ là quá đầy đủ và mọi người đang chìm trong những điểm du lịch thú vị đó. Tuy nhiên đó chưa phải là tất cả , ở phần 4 này mình sẽ giới thiệu thêm 5 địa điểm du lịch nữa cũng không hề kém cạnh đó là:

Khu phố cổ Hà Nội:


Phố cổ hà nội
Khu phố cổ Hà Nội, từng được các du khách phương Tây ví với thành Venice cổ kính, cho đến hôm hay vẫn là khu phố cổ xưa độc đáo ở Việt Nam.

Khu phố cổ Hà Nội thường được gọi là khu 36 phố phường nằm ở trung tâm thành phố Hà Nội, thuộc quận Hoàn Kiếm, có diện tích là 100 ha, được giới hạn phía bắc là đường Hàng Đậu, phía nam là các đường phố Hàng Bông - Hàng Gai - Cầu Gỗ và Hàng Thùng; phía đông là đường Trần Nhật Duật - Trần Quang Khải, phía tây là đường Phùng Hưng.

Nơi đây, xưa là các phường hội thủ công. Mỗi phố mang tên một hàng hoá: Hàng Nón, Hàng Chiếu... Trong khu phố cổ Hà Nội, xen lẫn các ngôi nhà truyền thống là các công trình văn hóa, lịch sử, tôn giáo và các nhà hàng ẩm thực. Khu phố cổ còn giữ được dáng vẻ kiến trúc của dân tộc Việt Nam và châu Á - tạo thành một quần thể kiến trúc độc đáo - nhà cửa san sát, phố xá tấp nập. Nhiều hoạt động trong đời sống hằng ngày của người dân đô thị diễn ra tấp nập: sinh hoạt, bán hàng, sản xuất, vui chơi, nghỉ ngơi, lễ hội, tạo nên sức sống mãnh liệt để khu phố tồn tại và phát triển liên tục.

Hà Nội xưa phân chia thành hai khu vực rõ rệt: khu thành cấm dành cho vua chúa, quan lại và khu buôn bán dành cho dân chúng - chính là khu phố cổ ngày nay. Thời trước, khu phố cổ được hình thành từ một mạng lưới giao thông đường sông với hệ thống kênh rạch tạo bởi các nhánh của sông Hồng và sông Tô Lịch. Những thợ thủ công lành nghề được triều đình tuyển chọn đã lập ra các làng nghề ngay gần khu vực các cổng hoàng thành. Thế kỷ XI, đây đã trở thành một khu phố buôn bán sầm uất với những phường thợ tách biệt chuyên làm một loại mặt hàng. Chính vì vậy, đến ngày nay, thành phố vẫn thường được gọi là Hà Nội - 36 phố phường. Mỗi phường bắt đầu bằng chữ "Hàng" như Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Thiếc, Hàng Giấy, Hàng Mã, Hàng Giầy... “Hàng” tiếng Việt cổ có nghĩa là hàng hóa, và các khu phố được đặt tên theo loại mặt hàng bán nhất định. Một vài khu phố ngày nay vẫn bán những mặt hàng truyền thống đó.

Phố cổ thực sự là khu vực rất hấp dẫn để du khách khám phá. Những ngôi nhà “ống” trong khu vực này là những ngôi nhà bề ngang hẹp và kéo dài về phía sau. Để thấy độ sâu của chúng, có thể xuôi theo những ngõ hẻm giữa các tòa nhà hoặc thăm một trong những cửa hàng trên phố Hàng Gai.

Cuộc sống trên phố cổ hiện tại vẫn diễn ra sôi động. Ngay từ sáng sớm, đường phố đã đông người: người đi làm, người bán hàng, người đi chơi... Những người đàn ông làm những nghề do cha ông truyền lại, các cụ bà trông coi nhà thờ họ, trông cháu hay bán thuốc lá, trông coi nhà cửa... Thậm chí trong những đêm đông giá lạnh, người Hà Nội vẫn có thói quen tụ tập, cùng nhau thưởng thức món ăn.

Phố cổ Hà Nội đang đứng trước những biến động to lớn và phức tạp của sự thích ứng với đời sống xã hội phát triển, làm cho một số ngôi nhà, đoạn phố bị thay thế bởi những khối kiến trúc mới, hiện đại. Song phố cổ vẫn còn đầy vẻ quyến rũ với những ngôi nhà ống nhỏ nhắn, xinh xắn và rêu phong, thấp thoáng ẩn mình trong màu xanh mượt mà và ngọt ngào hương hoa của cây lá. Phố cổ không bao giờ phai mờ vẻ đẹp thuần khiết, thanh tao.

Hồ Tây:


Hoàng hôn Hồ Tây
Có thể coi Hồ Tây là điểm du lịch gần hà nội ,Hồ tây cách trung tâm thủ đô khoảng hơn 10km nhưng không vì thế mà lượng du khách đổ về đây vắng vẻ. Có thể coi Hồ tây là mặt gương của Hà Nội, có diện tích rộng hơn 500 ha với một bề dày lịch sử mấy nghìn năm. Đường vòng quanh hồ dài tới 17km. Ngành địa lý lịch sử đã chứng minh rằng hồ là một đoạn sông Hồng cũ còn rớt lại sau khi sông đã đổi dòng... Có thể do sông hồ biến đổi như vậy mà đã xuất hiện nhiều truyền thuyết về hồ và tên gọi của hồ. Ví như theo truyện "Hồ Tinh" thì có tên là hồ (hoặc đầm) Xác Cáo, vì truyện kể là có một con cáo chín đuôi ẩn nấp nơi đây làm hại dân. Long Quân mới dâng nước lên phá hang cáo, hang sập thành ra hồ.

Theo truyện "Khổng lồ đúc chuông" thì hồ lại có tên là Trâu Vàng. Truyện kể rằng có ông khổng lồ có tài thu hết đồng đen của phương bắc đem đúc thành chuông. Khi thỉnh chuông, tiếng vang sang bên bắc. Vì đồng đen là mẹ vàng nên con trâu vàng phương Bắc nghe tiếng chuông liền vùng đi tìm mẹ. Tới đây nó quần mãi đất, khiến sụt thành hồ. Theo thư tịch thì thế kỷ XI, hồ này đi vào lịch sử với tên là Dâm Đàm (Đầm mù sương), tới thế kỷ XV thì đã gọi là Tây Hồ. Hồ còn có tên là Lãng Bạc, trùng với tên nơi diễn ra những trận đánh ác liệt giữa quân của Hai Bà Trưng và quân Hán ở vùng Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh. Hồ Tây từ lâu lắm đã là thắng cảnh.

Thời Lý - Trần, các vua chúa lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí, như cung Thúy Hoa thời Lý, điện Hàm Nguyên thời Trần nay là khu chùa Trấn Quốc, cung Từ Hoa thời Lý nay là khu chùa Kim Liên, điện Thuỵ Chương thời Lê nay là khu trường Chu Văn An... Những ngày sóng yên gió lặng, chơi thuyền Hồ Tây là một thú tao nhã. Lướt trên sóng hồ nhiều thi sĩ đã có những vần thơ tuyệt tác như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến...

Nếu làm một cuộc đi dạo quanh hồ thì đồng thời cũng được thăm khá nhiều di tích và thắng cảnh. Làng Nghi Tàm, quê hương nhà thơ "Bà huyện Thanh Quan" với chùa Kim Liên có kiến trúc độc đáo; làng Nhật Tân nguồn hoa đào mỗi độ xuân về. Rồi làng Xuân Tảo với đền Sóc thờ Thánh Gióng, làng Trích Sài có chùa Thiên Niên thờ bà tổ nghề dệt lĩnh, sang làng Kẻ Bưởi có nghề làm giấy cổ truyền và đền Đồng Cổ nơi bách quan hội thề thời Lý, làng Thụy Khuê có chùa Bà Đanh nổi tiếng một thời... Và đặc sắc nhất là đền Quán Thánh. Lại còn cả một số công trình nhà ở mới xây dựng bên hồ làm quang cảnh thêm đa dạng. Cùng với hồ Trúc Bạch, Hồ Tây làm giàu thêm chất thơ ở nội thành Hà Nội đồng thời cũng làm giàu cho Hà Nội về kinh tế, vì đó là những vựa cá đem lại nguồn thu lớn.

Ngôi nhà cổ 87 Mã Mây:



Ngôi nhà cổ 87 Mã Mây nằm ở phía bắc hồ Hoàn Kiếm. Phố Mã Mây xưa kia là hai phố: đoạn đầu là phố Hàng Mây chuyên bán song mây, đoạn sau là phố Hàng Mã, thời Pháp thuộc còn có tên Quân Cờ Đen.

Ngôi nhà được xây dựng khoảng cuối thế kỷ XIX. Với kiến trúc kiểu nhà truyền thống: giữa các lớp nhà có sân trong để lấy gió và ánh sáng, tầng một (phần tiếp giáp mặt phố) dùng để bán hàng, phía trong để ở và sản xuất, phần trong cùng là bếp và khu vệ sinh. Tầng hai, phòng ngoài để thờ và tiếp khách, phòng trong là nơi ở. Ngôi nhà còn được giữ lại các chi tiết kiến trúc cổ Hà Nội.

Ngôi nhà được cải tạo, bảo tồn năm 1999 và hoàn thành tháng 10 năm 1999. Ngôi nhà là nơi giới thiệu kiến trúc cổ Hà Nội và gợi ý nhân dân phố cổ cách bảo tồn, tôn tạo nhà cổ.

Ngôi nhà cổ 38 Hàng Đào:



Ngôi nhà 38 Hàng Đào, nguyên là đình Đồng Lạc (đình chợ bán yếm lụa). Đình được xây dựng từ thời Lê (thế kỷ XVII) với quy mô rộng rãi: Nhưng vì chiến tranh, đình bị phá huỷ. Khoảng năm 1856 (niên hiệu Tự Đức, Bính Thìn), ngôi đình này được trùng tu.

Năm 1941 (niên đại Bảo Đại 15), đình được xây dựng lại với quy mô hai tầng. Tầng một sử dụng để ở, điện thờ được đưa lên tầng hai. Trước và sau nhà có sân trồng cây. Ngồi nhà còn giữ lại được tấm bia đá cách đây hơn 150 năm một di vật hiếm có ở các đình Hà Nội) và một số họa tiết trang trí của đình.

Ngôi nhà được cải tạo, bảo tồn từ đầu năm 2000 và khánh thành vào tháng 4 năm 2000. Nơi này giới thiệu kỹ thuật xây dựng truyền thống, kết hợp kỹ thuật tôn tạo hiện đại cũng như những thông tin về bảo tồn, tôn tạo phố cổ.

Ô Quan Chưởng:



Đây là một trong 21 cửa ô còn sót lại của toà thành Thăng Long cũ xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), đến năm Gia Long thứ ba được xây dựng lại và giữ nguyên kiểu cách đến ngày nay.

Hiện cửa ô còn nguyên cửa chính và hai cửa con hai bên, trên tường cửa chính có gắn một tấm đá đặt năm 1882 ghi lệnh cấm người canh gác không được sách nhiễu nhân dân mỗi khi qua lại cửa ô. Bên trên cửa lớn có ba chữ Hán "Đông Hà Môn" tức là cửa ô Đông Hà, tên gọi một phường thời Lê bao gồm khu vực Hàng Chiếu, Thanh Hà, Đào Duy Từ. Cửa ô còn có tên gọi khác là Ô Quan Chưởng.

Tương truyền, tên gọi này bắt nguồn từ sự kiện năm Tự Đức thứ 26, khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội (20-11-1873), chúng kéo quân từ dưới tàu chiến đậu ở bến sông lên, khi bắt đầu qua cửa ô Đông Hà thì vấp phải sức kháng cự quyết liệt của quân Hà Nội do một viên quan chưởng cơ chỉ huy và bị thiệt hại khá nặng. Về sau Pháp có thêm viện binh.

Kết cục, viên chưởng cơ cùng toàn thể binh lính gồm một trăm người đều anh dũng hy sinh. Để tỏ lòng ngưỡng mộ người chưởng cơ anh dũng, nhân dân đổi gọi cửa ô là ô Quan Chưởng.

Tuy nhiên, sự kiện năm 1873 cho đến nay vẫn chưa được xác minh. Vì vậy, tên ô Quan Chưởng vẫn còn đó như một tồn nghi.





Mộc Châu địa điểm du lịch thú vị

Nhắc đến Mộc Châu thì không thể nào không nhắc đến những cánh đồng phủ trắng hoa, những đồi chè bát ngát mênh mông và đặc biệt đây cũng là nơi cung cấp sữa bò lớn nhất cả nước. Mộc Châu được coi là địa điểm du lịch gần hà nội khá hấp dẫn và thú vị với không gian thoáng mát .
Khu Cao nguyên Mộc Châu nằm ở độ cao 1050 m so với mặt biển, cách Hà Nội gần 200 km về phía Tây Bắc theo quốc lộ 6. Đây là cao nguyên lớn trải dài khoảng 80 km, rộng 25 km, với 1600 ha đồng cỏ.
Có thể nói Mộc Châu là nơi tập trung nhiều nhất tài nguyên du lịch của Sơn La và vùng núi Tây Bắc - Bắc Bộ. Khí hậu là tài nguyên du lịch đặc biệt có tính đặc thù của Mộc Châu. Ở giữa cao nguyên Mộc Châu là một vùng tiểu khí hậu với mùa hè mát mẻ có nhiệt độ trung bình là 20 độC và mùa đông khô ráo hơn các vùng khác.



Cách Mộc Châu khoảng 40 km về phía nam có khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha - Sốp Cộp, nơi đây có nhiều rừng nguyên sinh và nhiều thú quý hiếm như hổ,gấu ngoài ra còn nhiều loài khác như khỉ, vượn, gà đồi, ... là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái.
Sản phẩm du lịch tiêu biểu của cụm du lịch Mộc Châu là du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí; du lịch tham quan các cảnh quan, danh thắng; du lịch điền giã; du lịch văn hoá, lễ hội các dân tộc; và du lịch đường sông.
Đến với Mộc Châu du khách sẽ được tham quan các di tích lịch sử, động Sơn Mộc Hương, rừng thông, chùa Chiền Viên, thác Dải Yếm, đỉnh Phiêng Luông, và các bản văn hóa của người Mông, người Dao ở Vân Hồ, với những câu hát điệu múa khèn, với các món ăn dân tộc, đặc sản, ẩm thực và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm bản sắc văn hoá lâu đời.
Động Sơn Mộc Hương nằm sát ngay trung tâm huyện lỵ, đi theo tuyến đường tương đối cheo leo qua những vườn mận, vườn mơ sẽ tới cửa động. Từ cửa động có thể quan sát cả thị trấn Mộc Châu. Bên trong động là những cấu trúc nhũ, tạo cho người xem cảm giác như lạch vào thế giới thần tiên.
Đi theo tuyến đường huyện lỵ 2 km, du khách có thể đến một khu đồi thông già có quang cảnh đẹp trên những đồi bát úp thấp. Nơi đây rất gần thị trấn, đường giao thông thuận tiện nên rất thích hợp cho loại hình cắm trại, picnic. Trong tương lai tại đây có thể xây dựng một sân golf lý tưởng.

Từ ngã ba cửa khẩu Pa Háng, đi bằng ô tô theo đường chính, hoặc dọc theo suối, khoảng 4 km đến chỗ hợp lưu hai con suối là một thác nước hùng vĩ. Tương truyền trong dân gian dòng thác này là dải yếm của người con gái cứu chàng trai thoát khỏi dòng lũ. Tuy thác nằm thấp hơn đường nhưng hai thác đổ xuống với chiều cao 100 m, một bên được chia làm 9 tầng, bên còn lại 5 tầng. Hai thác nằm cách nhau khoảng 200 m, nhưng trong khoảng cách đó là một bãi đất phẳng rất thuận tiện cho việc tập kết của khách thăm quan.
Ở Mộc Châu có nhà máy chè chuyên sản xuất để xuất khẩu và phục vụ nhu cầu trong nước. Nông trường Mộc Châu được thành lập năm 1958, với hàng ngàn con bò sữa giống là nơi cung cấp sữa bò lớn nhất trong cả nước và là một trong những trung tâm trồng chè lớn của cả nước. Khách du lịch đến đây sẽ được chiêm ngưỡng những cánh đồng nguyên liệu mênh mông, với những vườn mận hoa trắng.

Đỉnh Phiêng Luông nằm cách Mộc Châu 15 km về phía Đông có đỉnh Phiêng Luông với độ cao 1500 m. Trên đỉnh có một khu đát bằng phẳng rộng gần 10 ha rất thích hợp cho những môn thể thao như đi ngựa, đi bộ hoặc leo núi .
Đồi chè bát ngát
Ngoài ra, du khách có thể đi du lịch đường sông, xuống Chiềng Yên, tham quan sông Đà hoặc du khách đi du lịch quá cảnh sang Lào. Từ Mộc Châu xuống thẳng cảng sông Vạn Yên, nơi xuất phát tuyến du lịch sông Đà, đi du thuyền du khách sẽ được chiêm ngưỡng nhiều cảnh đẹp trên tuyến du lịch sông Đà kéo dài đến Thị Xã Sơn La hoặc xuôi xuống thủy điện Hoà Bình. Mộc Châu có cửa khẩu Pa Háng sang Hủa Phăn (CHDCND Lào). Đoạn Mộc Châu - Pa Háng được mở rộng và nâng cấp thành quốc lộ. Đây là điều kiện thuận lợi cho khách du lịch tham quan môi trường tự nhiên Lóng Sập, Xuân Nha và nối tuyến sang Thị Xã Sầm Nưa.
Khu Lóng Luông, Vân Hồ - Mộc Châu là nơi cư trú nhiều đồng bào dân tộc Mông, giao thông đến các bản thuận tiện, cho phép phát triển một số làng văn hoá, tổ chức lễ hội dân tộc và các hoạt động ăn hoá đặc trưng của dân tộc Mông. Khu bản Áng đặc trưng cho bản sắc dân tộc Thái. Tại đây có một khu quần ngựa và có thể đi thuyền vào hai khu rừng tại km số 45 và Chiềng Sại, nơi đây người Thái - Mộc Châu và người Lào có cùng một ngôn ngữ.
Hy vọng Mộc Châu sẽ là một điểm đến lý tưởng cho sự lựa chọn của bạn.
Xem thêm : điểm du lịch ở hà nội

Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Những địa điểm tham quan du lịch Hà Nội (P2)

Hôm trước mình có giới thiệu 3 địa điểm du lịch đó là Hồ Gươm, Đền Ngọc Sơn và Tháp Hòa Phong , hôm nay mình xin giới thiệu thêm 4 địa điểm du lịch ở hà nội đó là:

Chùa Một Cột:
Chùa Một Cột
Là một cụm kiến trúc gồm ngôi chùa và tòa đài xây dựng giữa hồ vuông. Cả cụm có tên là đài Liên Hoa. Đài này lâu nay quen gọi là chùa Một Cột, hình vuông, mỗi bề 3m, mái cong, dựng trên cột đá hình trụ. Cột có đường kính 1,20m; cao 4m (chưa kể phần chìm dưới đất) đỡ một hệ thống những thanh gỗ tạo thành bộ khung sườn kiên cố đỡ cho ngôi đài dựng bên trên khác nào một đóa hoa sen vươn thẳng trên khu ao hình vuông có lan can bằng gạch bao quanh. Từ bên ngoài có lối nhỏ bằng gạch đi qua ao đến một chiếc thang xinh xắn dẫn lên Phật đài. Trên cửa Phật đài có biển đề "Liên Hoa đài" (Đài hoa sen) ghi nhớ sự tích nằm mộng của vua Lý dẫn tới việc xây chùa.

Sử chép "Lý Thái Tông (1028 - 1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, vua cũng được dắt lên đó. Khi tỉnh giấc vua đem việc ấy hỏi các quan. Có người khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa ao, làm toà sen của Phật đặt trên cột như đã thấy trong mộng. Cho các sư chạy đàn, tụng kinh cầu cho vua sống lâu, vì thế gọi là chùa Diên Hựu (kéo dài cõi phúc)".

Việc dựng chùa và đài hoa sen tiến hành vào năm 1049. Chưa rõ ngôi chùa như thế nào, chứ qui mô Liên Hoa Đài thì một tấm bia cổ ngay từ đời Lý đã ghi "...Đào hồ Linh Chiếu, giữa hồ vọt lên một cột đá đỉnh cột nở đóa hoa sen nghìn cánh, trên sen dựng tòa điện màu xanh. Trong điện đặt pho tượng Quan Âm. Vòng quanh hồ là dãy hành lang. Lại đào ao Bích Trì, mỗi bên đều bắc cầu vòng để đi qua. Phía sân cầu đằng trước, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly" (Bia chùa Đọi ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam).

Như vậy, Liên Hoa Đài thời Lý lớn hơn ngày nay nhiều, cả những bộ phận hợp thành và hình dáng cũng phong phú hơn.

Trong thực tế, cụm chùa Một Cột đã qua nhiều lần sửa chữa. Ngày 11-9-1954, trước khi rút khỏi Hà Nội tạm chiếm, quân đội thực dân Pháp đã cho nổ mìn phá huỷ Liên Hoa Đài.

Chùa Một Cột ngoài những đợt nghỉ lễ thì thứ 7 và Chủ nhật thì lượng khách đổ về đây thăm quan cũng khá đông. Vì vậy cũng có thể coi nơi đây là địa điểm du lịch cuối tuần gần hà nội vô cùng hấp dẫn.

Thành cổ Hà Nội:


Thành cổ xưa nằm trong một khuôn viên khá rộng, phía tây giáp phường Hoàng Diệu, phía đông giáp đường Nguyễn Tri Phương, phía nam giáp đường Trần Phú, phía bắc giới hạn bởi phố Phan Đình Phùng, thuộc quận Ba Đình.

Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, toà thành được xây dựng và mở rộng ở các vương triều sau. Thành Thăng Long được qui hoạch kiểu "Tam trùng thành quách" với ba vòng thành lồng nhau. Cấm thành, hay Long Phượng thành thời Lý - Trần ở trong cùng, là khu vực hoàng cung. Hoàng thành ở giữa bọc lấy khu kinh tế thị dân ở phía đông. Ngoài cùng là dải La thành hay Đại La thành. Năm 1805, nhà Nguyễn xây thành Hà Nội đã giữ lại khu vực Cấm thành làm hành cung cho vua ở mỗi khi tuần du phía bắc. Thời Pháp, khi phá thành Hà Nội, nguời Pháp cũng giữ lại khu này làm chỉ huy sở của quân đội.

Năm công trình kiến trúc cổ còn sót lại sau khi Pháp phá thành Hà nội, tính từ phía nam lên bắc gồm các hạng mục sau: Cột cờ, cửa Đoan Môn, nền điện Kính Thiên, Hậu Lâu và cửa chính Bắc Môn.

Cửa Đoan Môn là toà duy nhất còn được giữ lại trong tổng thể, bao gồm một vọng lầu có hai tầng, lầu trên tám mái, dưới gồm một lối vào mở năm cửa lớn. Phía trên cổng chính, mặt nam còn hàng chữ "Đoan Môn". Hiện nay Đoan Môn còn tương đối nguyên vẹn.

Điện Kính Thiên, điện bị phá năm 1886 để làm toà nhà ban chỉ huy pháo binh (quân đội Pháp). Hiện chỉ còn lại những bậc thềm đá với hai hàng lan can rồng đá ở giữa, hai hàng lan can đá chạm khắc hai bên ở phía nam, phía bắc cũng có một bậc thềm trang trí rồng đá. Tam cấp ở điện Kính Thiên ở mặt nam có tất cả 10 bậc, mặt bắc có bảy bậc do những viên đá lớn ghép lại.

Hậu Lâu, còn gọi là Lầu công chúa, xây bằng gạch, phía dưới hình hộp, trên là công trình kiến trúc ba tầng. Lầu dưới có ba tầng mái, lầu trên là hai tầng mái.

Bắc Môn, có dạng hình thang mà hai bên là hình tam giác, lòng hình vòm cuốn xây bằng gạch, mép cửa kè đá hình chữ nhật, diềm trên bằng đá trang trí nền cánh sen. Phía bắc cửa có tấm biển đá viết chữ Hán "Chính Bắc Môn". Bên cạnh phía phải cũng gắn một tấm biển đá khắc ngày 25-4-1882 và hai vết đạn đại bác - dấu vết của cuộc chiến tranh với Pháp. Cửa thành vẫn còn, Vọng Lâu ở trên nền cổng thành đã bị phá. Thành phố đã làm lại Vọng Lâu để khôi phục lại vẻ đường bệ, chững chạc vốn có của nó.

Năm điểm di tích trên tuy quy mô kiến trúc không lớn, song cùng với những di tích còn nằm lại dưới lòng đất minh chứng về một trung tâm chính trị, kinh đô của đất nước suốt gần nghìn năm lịch sử.

Ở phía nam thành cổ Hà Nội, còn lưu lại một phần kiến trúc của trường đại học đầu tiên ở Việt Nam: Văn Miếu - Quốc Tử Giám khởi dựng vào đầu thế kỉ XI dưới thời nhà Lý.

Cột Cờ:

Cột cờ Hà Nội
Cột cờ là một trong những công trình kiến trúc thuộc khu vực thành cổ Hà Nội còn nguyên vẹn.

Cột cờ nằm trong khuôn viên Bảo tàng Quân đội, đường Điện Biên Phủ, phường Điện Biên, quận Ba Đình.

Xây dựng năm 1812 dưới triều vua Gia Long, cột cờ gồm ba tầng bệ, thân cột và hệ thống cầu thang xoáy bên trong. Ba tầng dưới là ba khối vuông xây chồng lên nhau từ to đến nhỏ, trên cùng là thân cột cao chừng 20 m, hình lục lăng, có trổ các cửa hoa nhỏ để tạo không khí và ánh sáng cho bên trong. Đỉnh cột hình bát giác, có trụ để cắm cờ, trèo lên đỉnh cao nhất sẽ bao quát được toàn bộ khu vực xung quanh.

Hồ Trúc Bạch:

Hồ Trúc Bạch
Hồ Trúc Bạch cách Hồ Tây bởi con đường Thanh Niên. Đường Thanh Niên có từ năm 1957 - 1958 theo ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi hồ được thanh niên học sinh Hà Nội lao động trong những ngày thứ bảy cộng sản mở rộng như ngày nay. Trước gọi là đường Cổ Ngư, hình thành từ một con đê hẹp được đắp ngăn một góc Hồ Tây.

Hồ Trúc Bạch có từ thế kỉ XVII khi dân hai làng Yên Hoa (nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp con đê ngăn góc đông nam Hồ Tây để nuôi bắt cá. Từ khi thành một hồ biệt lập, hồ đã đi vào thư tịch cổ. Sách "Tây Hồ chí" cho biết nguyên ở phía nam hồ có làng Trúc Yên, có nghề làm mành, do đó nhà nào cũng trồng trúc, trúc mọc như rừng. Thời chúa Trịnh Giang (1729 - 1740) xây ở đây một cung điện gọi là Viện Trúc Lâm. Về sau, viện trở thành nơi giam cầm những cung nữ có lỗi, phải dệt lụa để mưu sinh. Lụa đẹp, bóng bẩy, nổi tiếng khắp kinh thành, gọi là lụa làng Trúc.

Ven hồ Trúc Bạch có nhiều di tích lịch sử và công trình kiến trúc đặc sắc như đền Quán Thánh ở ngay góc tây nam hồ. Phía đông có chùa Châu Long (phố Châu Long), tương truyền xây từ thời Trần, là nơi tu hành của công chúa con vua Trần Nhân Tông. Có đền An Trì, nơi thờ Uy Đô, một anh hùng chống quân Nguyên.

Ba phía chung quanh hồ phố xá che khuất, chỉ có phía tây giáp đường Thanh Niên mới bày ra vẻ đẹp êm ả phẳng lặng của mặt hồ. Phía bắc hồ có một gò đất nhỏ, trên gò có đền thờ Cẩu Nhi gắn với chuyện Lý Công Uẩn dời đô.

Hồ Trúc Bạch cùng với công viên Lý Tự Trọng và Hồ Tây tạo thành một tổng thể thiên nhiên hài hoà, làm thành một thắng cảnh đẹp của thủ đô Hà Nội.

xem thêm : phủ thành chương

Những địa điểm tham quan du lịch tại Hà Nội mà mọi người cần biết(P1)

Hàng năm thì lượng khách du lịch về tham quan Hà Nội là rất đông nhưng thời gian hạn hẹp họ thường phân vân không biết nên đi địa điểm nào là hợp lý nhất , hấp dẫn nhất và ý nghĩa nhất khi đến Hà Nội. Sau đây mình xin giới thiệu những địa điểm du lịch ở hà nội :

Ở phần 1 mình sẽ chia sẻ 3 điểm du lịch đó là Hồ Hoàn Kiếm( hồ Gươm), Đền Ngọc Sơn và Tháp Hòa Phong

Hồ Hoàn Kiếm:
Hồ Gươm
Đẹp như một lẵng hoa giữa lòng thành phố, hồ Hoàn Kiếm được bao quanh bởi các đường phố Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ, Hàng Khay. Ba con phố này dài khoảng 1.800m. Mặt nước hồ là tấm gương lớn soi bóng la đà những cây cổ thụ, những rặng liễu thướt tha tóc rủ, những mái đền, chùa cổ kính, tháp cũ rêu phong, các toà nhà mới cao tầng vươn lên trời xanh.

Trước đây hồ có tên là Lục Thủy vì sắc nước bốn mùa xanh trong. Thế kỉ XV, hồ Lục Thủy đổi tên là hồ Hoàn Kiếm (trả gươm), gọi tắt là hồ Gươm. Cái tên Hoàn Kiếm gắn liền với câu chuyện trả gươm cho rùa vàng của vua Lê Thái Tổ.

Rùa là một trong bốn vật linh (Long, ly, quy, phượng) trong tâm thức văn hoá dân gian. Giống rùa quý này vẫn còn sinh sống trong lòng hồ, hằng năm có đôi lần nhô lên mặt nước. Thật hạnh phúc cho du khách nào nhìn thấy rùa nổi trên mặt hồ.Trong hồ có hai đảo nổi. Đảo lớn là đảo Ngọc ở phía bắc hồ, gần bờ đông, có cầu Thê Húc sắc đỏ uốn cong nối ra đảo. Đảo Rùa nhỏ hơn, trên có ngọn tháp cổ ở phía nam hồ, giữa bốn bề lung linh bóng nước.Hồ Hoàn Kiếm là nơi hội tụ, điểm hẹn của du khách bốn mùa:
Mùa xuân đậm đà lễ hội truyền thống và rực rỡ sắc hoa đào.
Mùa hạ ùa ra từng cơn gió lồng lộng, quạt đi cái oi bức của phố phường râm ran tiếng ve.
Mùa thu với màn sương huyền ảo, dáng liễu mơ hồ như thực, như hư.
Mùa đông, lá vàng trải thảm, những giọt mưa phùn bay lất phất mang theo hơi lạnh.

Đền Ngọc Sơn:


Đền được xây dựng trên đảo Ngọc, trong hồ Hoàn Kiếm cùng với Tháp Bút, Đài Nghiên, cầu Thê Húc (cầu đậu nắng ban mai), lầu Đắc Nguyệt (lầu được trăng), đình Trấn Ba (đình chắn sóng) và đền chính hợp thành cụm di tích lịch sử kiến trúc - nghệ thuật và danh lam, thắng cảnh tiêu biểu của thủ đô.

Đảo Ngọc Sơn xưa được gọi là Tượng Nhĩ (tai voi), vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên là Ngọc Tượng, đến thời Trần đổi thành Ngọc Sơn. Truyền thuyết kể rằng, ở gò trong hồ đá, có các tiên nữ thường về đây múa hát. Thời vua Lê, Chúa Trịnh xây cung Khánh Thụy ở Ngọc Sơn làm nơi vui chơi. Cuối thời Lê, xây chùa Ngọc Sơn thờ Phật. Đến thời Nguyễn, chuyển thành đền thờ Văn Xương - Đế Quân, rồi lại phối thờ Lã Động Tân, Quan Đế (tức Quan Vân Trường), phật A Di Đà và đặc biệt là tướng quân Trần Hưng Đạo. Điều này thể hiện quan niệm Tam giáo đồng nguyên của người Việt.

Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu bổ lại đền. Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá chung quanh, xây đình Trấn Ba, bắc một cầu từ bờ đông đi vào gọi là cầu Thê Húc.

Trên núi Độc Tôn cũ, ông cho xây một tháp đá, đỉnh tháp hình ngọn bút lông, thân tháp có khắc ba chữ "Tả Thanh Thiên" (viết lên trời xanh), ngày nay thường gọi đó là Tháp Bút. Tiếp đến là một cửa cuốn gọi là Đài Nghiên, trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình ba con ếch đội. Trên nghiên có khắc một bài minh nói về công dụng của cái nghiên mực xét về phương diện triết học. Người đời sau ca ngợi là: Nhất đài Phương Đình bút.

Từ cổng ngoài đi vào có hai bức tường hai bên, một bên là bảng rồng, một bên là bảng hổ, tượng trưng cho hai bảng cao quý nêu tên những người thi đỗ, khiến cho các sĩ tử đi qua càng gắng công học hành.

Tên cầu Thê Húc nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời. Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, còn gọi là Đắc Nguyệt Lâu (lầu được trăng) dưới bóng cây đa cổ thụ, ở giữa một vùng cây cối um tùm, trông như từ dưới nước nhô lên.

Đền chính gồm hai ngôi nối liền nhau, ngôi đền thứ nhất về phía bắc thờ Trần Hưng Đạo và Văn Xương. Tượng đặt ở hậu cung trên bệ đá cao khoảng 1m, hai bên có hai cầu thang bằng đá. Tượng Văn Xương đứng, tay cầm bút. Phía nam có đình Trấn Ba (đình chắn sóng - ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa làn sóng không lành mạnh trong nền văn hoá đương thời). Đình hình vuông có tám mái, mái hai tầng có tám cột chống đỡ, bốn cột ngoài bằng đá, bốn cột trong bằng gỗ.

Tuy là một ngôi đền kiến trúc mới, song đền Ngọc Sơn là một điển hình về không gian và tạo tác kiến trúc. Sự kết hợp giữa đền và hồ đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên - Nhân hợp nhất, tạo vẻ đẹp cổ kính, hài hoà, đăng đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hoà giữa con người và thiên nhiên. Đền và hồ đã trở thành những chứng tích gợi lại những hoài niệm về lịch sử dân tộc, thức tỉnh niềm tự hào chính đáng, lòng yêu nước, cũng như tâm linh, ý thức mỗi người Việt Nam trước sự trường tồn của dân tộc.

Tháp Hòa Phong:



Tháp đứng trên vỉa hè bên phía hồ Hoàn Kiếm đối diện với Trung tâm Ngoại vụ Bưu điện Hà Nội qua trục đường Đinh Tiên Hoàng.

Đây là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân, còn gọi là chùa Quan Thượng, một quần thể kiến trúc Phật giáo nổi tiếng một thời. Nguyên là vào giữa thế kỷ XIX ở chỗ này và toàn thể khu vực trung tâm Bưu điện có một ngôi chùa lớn. Khuôn viên hình tám cạnh gồm hai chục nếp nhà, nhà thờ Phật, nhà thờ Mẫu, nhà in Kinh, nhà cho các sư ở, cả thảy trên một trăm gian, bên trong trang trí rất tráng lệ. Ngoài chùa là hồ sen.

Trước cửa chùa là ngọn tháp Hoà Phong. Chùa được xây dựng vào năm 1846 theo sáng kiến của Quan Thượng (chức quan đứng đầu tỉnh Hà Nội) Nguyễn Đăng Giai.

Năm 1898, cùng với đà mở mang xây dựng đường phố mới, chùa bị phá hủy, chỉ còn ngọn tháp Hòa Phong. Đây là một loại tháp hiếm có ở Hà Nội, thuộc loại tháp bốn cửa, biến dạng của Stupa (một loại hình tháp của Phật giáo Ấn Độ). Bốn mặt tầng hai có hình bát quái. Bát quái ban đầu là công cụ chỉ phương hướng, theo vũ trụ quan Trung Hoa. Tháp Hòa Phong là tổng hợp những quan niệm về vũ trụ của Phật giáo.

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

Giới thiệu chi tiết về tour du lịch Sapa trong 2 ngày nghỉ lễ 30/4, 1/5

Hàng năm vào 2 ngày nghỉ lễ 30/4, 1/5 thì địa điểm du lịch Sapa luôn là tour được du khách đặt nhiều nhất . Sapa là địa điểm du lịch gần hà nội với không khí trong lành,nhiều cảnh quan thiên nhiên mà không nơi đâu có được.

Mọi người có thể đi tour 3 ngày 4 đêm hoặc tour 2 ngày 3 đêm. Mình chỉ giới thiệu chi tiết tour du lịch 2 ngày 3 đêm cho mọi người :


Thời gian: 2 ngày 3 đêm
Hành trình: Sapa - Cát Cát - Hàm Rồng - Lao Cai - Hà Nội

Giới thiệu chương trình:

Du lịch Sapa dịp lễ 30.3 – 1.5.2014 là chương trình truyền thống của Dream Travel, dựa trên nhu cầu thực tế của du khách trong dịp đại lễ 30.4 – 1.5 sắp tới, Dream Travel xây dựng chương trình hoàn hảo về thời lượng chuyến đi, địa điểm tham quan cũng như yêu cầu về chất lượng dịch vụ và giá cả.
Sapa tuy không phải là địa điểm du lịch ở hà nội nhưng khách hàng rất nhiều mong muốn trải nghiệm không khí vùng cao Tây Bắc , chương trình được khởi hành hàng ngày từ ngày 29.4, 30.4, 1.5.2014. Quý khách ngủ đêm trên tàu
Tiêu chuẩn dịch vụ vận chuyển là tàu khoang 4 nằm mềm điều hòa, ốp gỗ sang trọng, xe đời mới đưa đón tận nơi, hướng dẫn viên suốt tuyến nói 2 ngôn ngữ), khách sạn, ăn uống đạt tiêu chuẩn 2 sao, 3 sao tốt.

Chương trình chi tiết:

Đêm 01:Du lịch Sapa: Hà Nội - Lào Cai
Tối: Quý khách có mặt tại ga B Hà Nội - Đường Trần Quý Cáp, Hướng dẫn viên của Dream Travel giao vé và hướng dẫn các thủ tục lên tàu lên tàu đi Lào Cai. Qúy khách đáp chuyến tàu SP1 hoặc SP3 đi Lào Cai. Tàu rời ga Hà Nội. Quý khách ngủ đêm trên tàu.

Ngày 1: Du lịch Sapa - Cát Cát - Chợ Tình (Ăn Sáng, Trưa,Tối)
Sáng: Tới Lào Cai, Xe đưa Quý khách lên Sapa nghỉ ngơi và ăn sáng tại nhà hàng khách sạn. Quý khách nhận phòng lúc 12h trưa
09h00: HDV đón Quý khách tại Khách sạn, khởi hành đi thăm bản Cát Cát thăm bản người H’Mông, tìm hiểu nghề dệt nhuộm của người H’Mông, giao lưu văn hóa với người H’mông, thăm thác nước, nhà máy thủy điện của người Pháp. (Quý khách đi bộ)
Trưa: Quý khách thưởng thức bữa trưa tại tại nhà hàng
Chiều: Quý khách tự do khám phá Sapa và nghỉ ngơi
Tối: Ăn tối tại nhà hàng và nghỉ đêm tại Sapa, phòng riêng, nếu là tối thứ 7 tại khu Nhà Thờ thường xuyên diễn ra Chợ tình của người dân tộc.

Ngày 02: Du lịch Sapa - Hàm Rồng (Ăn Sáng, Trưa, Tối)
Sáng:Ăn sáng tại khách sạn, HDV đón Quý khách đi thăm các Biệt thự cổ, chinh phục đỉnh Hàm Rồng, lên đến Cổng Trời, hòn Phụ Tử, chiêm ngưỡng phong cảnh Sapa Hàm Rồng trong sương mờ và lưu lại cho mình những kiểu ảnh đẹp nhất.
Trưa: Quý khách làm thủ tục trả phòng khách sạn. Ăn trưa tại nhà hàng. Tự do
Chiều: Quý khách xuống Lào Cai
Tối: Ăn tối tại Lào Cai. Quý khách lên tàu về lại Hà Nội. Ngủ đêm trên tàu.

Ngày 03: Trở về Hà nội (Sáng sớm)
05h00: Tàu về tới ga Hà Nội. Chia tay Quý khách. Kết thúc chương trình.

Giá tour/người: 2.800.000VND

Một số hình ảnh Sapa:

Ruộng bậc thang đặc trưng ở SaPa

Nhà Thờ
Chợ Sapa với quần áo thổ cẩm
Xem Thêm : du lịch đền sóc

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

4 Điểm vui chơi gần Hà Nội thú vị hấp dẫn nhất

Sau một tuần học tập và làm việc mệt nhoài thì đây là 4  địa điểm du lịch gần hà nội sẽ cho bạn những trải nghiệm thú vị, những giây phút thoải mái nhất .

1. Tam Đảo

Chỉ cách Hà Nội khoảng 80 km, Tam Đảo là địa điểm vui chơi gần Hà Nội lý tưởng nhất. Tên Tam Đảo được bắt nguồn từ ba ngọn núi cao Thạch Bàn, Thiên Thị và Phú Nghĩa nhô lên trên biển mây. 3 hòn đảo nhô lên giữa mây ngàn được gọi tên là Tam Đảo.


Tam Đảo

Lịch sử: Khu nghỉ dưỡng Tam Đảo được người Pháp phát hiện và xây dựng từ những năm đầu thế kỷ 19. Đến năm 1940, Tam Đảo có 145 tòa nhà, biệt thự lộng lẫy. Nhưng hiện nay, những biệt thự này chỉ còn là đống hoang tàn, đổ nát, rêu phong…

Khí hậu: Với độ cao khoảng 1000 m, Tam Đảo có nhiệt độ trung bình từ 18 đến 25 độ C, vô cùng mát mẻ và trong lành.

Cảnh đẹp: Thị trấn Tam Đảo chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay, với những tòa nhà men theo sườn đồi, sương khói vờn trên đỉnh núi, nắng nhẹ buông lơi trên thảm cỏ non.


Nhà thờ cổ Tam Đảo

Khi lên Tam Đảo, các bạn nhớ ghé thăm những địa điểm thú vị như Tháp truyền hình cao 93 m, Đền Bà Chúa thượng ngàn, Thác Bạc, Đỉnh Rùng Rình, Cổng trời, Nhà thờ cổ, tắm bể bơi…


Tháp truyền hình

Đặc sản Tam Đảo: ngọn su su, gà đồi đắp đất nướng, lợn mán nướng. Nhưng ăn uống ở Tam Đảo khá đắt nên bạn có thể chuẩn bị nước uống và đồ ăn sẵn từ nhà mang đi.

2. Suối khoáng nóng Thanh Thủy

Cách Hà Nội 65 km về hướng Tây Bắc, khu du lịch suối khoáng nóng Thanh Thủy thuộc xã Bảo Yên, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.


Bể bơi trong nhà lớn nhất Việt Nam

Khu suối khoáng nóng Thanh Thủy nằm bên dòng sông Đà thơ mộng, hiền hòa, bao quanh là những cánh đồng lúa thơm, những đồi chè xanh mướt mát. Thanh Thủy resort có bể bơi trong nhà lớn nhất Việt Nam với nguồn nước nóng quý hiếm mà thiên nhiên ban tặng và những khu nhà nghỉ dưỡng yên tĩnh, những con đường nhỏ rợp bóng cây và hoa.


Dạo chơi trong khu resort

Với suối khoáng nóng Thanh Thủy, bạn sẽ không chỉ được xả hơi, thoải mái mà còn có thể phục hồi sức khỏe nhanh chóng.

3. Ba Vì

Ba Vì là địa điểm du lịch ở hà nội , nổi tiếng là vùng không gian xanh sạch, hoang sơ, lý tưởng và thú vị cho những buổi dã ngoại cuối tuần. Đường đến Ba Vì men trong rừng rậm, uốn lượn quanh co bên những tán cây và thung lũng ngút ngàn mây và gió. Những khu du lịch tại đây đã được đầu tư, cải tạo ngày càng khang trang hơn với nhiều tour du lịch thú vị.


Trên núi Ba Vì

Khi đến Ba Vì, bạn có thể ghé thăm: Khu vườn xương rồng, tre trúc, đỉnh Tản Viên, Đỉnh Vua, khu di tích lịch sử cách mạng, khu phế tích biệt thự thời Pháp, leo núi thăm quan rừng nguyên sinh, du lịch an dưỡng Ao Vua, Khoang Xanh…


Đường lên vườn quốc gia Ba Vì

Từ Ba Vì, bạn có thể đi xe máy hoặc đi xe bus đều rất tiện. Nếu đi xe máy, bạn đi theo đường Đại lộ Thăng Long hoặc đường Xuân Thủy qua Sơn Tây, rẽ trái đi Xuân Khanh, được 10 km thấy biển chỉ dẫn rẽ trái là đến. Nếu đi xe bus, có chuyến 24 đến thẳng Xuân Khanh rồi bắt xe ôm vào hoặc chuyến 71 đến Sơn Tây rồi đổi sang 74 đến Xuân Khanh.

Giá nhà nghỉ, khách sạn ở Ba Vì cũng tương đối phải chăng và phù hợp với đông đảo mọi người.

4. Đồng Mô

Khu du lịch sinh thái Đồng Mô cách Hà Nội 40 km về phía Tây. Đồng Mô hội đủ 3 yếu tố: thiên nhiên trong lành, nhiều trò giải trí thú vị và ẩm thực độc đáo. Đến Đồng Mô, bạn sẽ được tận hưởng không khí trong lành, mát mẻ, thư giãn với những dịch vụ massage, xông hơi và thưởng thức rất nhiều món đặc sản thơm ngon.


Khu du lịch Đồng Mô

Khu du lịch Đồng Mô gồm một hồ nước rộng gần 200 ha, nằm dưới chân núi Ba Vì thơ mộng, các khu nhà nghỉ dưỡng nằm rải rác trên hòn đảo trong hồ. Tới Đồng Mô, bạn sẽ được đi tham quan lòng hồ, ngắm nhìn cảnh núi non trùng điệp, hữu tình. Quần thể du lịch ở đây rất thuận tiện cho du lịch, giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao: đua ngựa, chơi tennis… của mọi lứa tuổi. Đặc biệt, khu du lịch còn có một sân golf rất nổi tiếng được rất nhiều doanh nhân thành đạt ghé chơi.


Du lịch Đồng Mô

Đồng Mô rất gần với thành cổ Sơn Tây, Đền Và, Chùa Mía, khu du lịch Suối Hai và đền thờ Bác Hồ ở Ba Vì.

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Những khu du lịch tuyệt vời cho 2 ngày nghỉ 30/4 và 1/5

Sắp tới vào ngày 30/4 và ngày 1/5 là 2 ngày nghỉ không quá ngắn và cũng không quá dài để mọi người có thể đi xa. Bạn nên lựa chọn 1 địa điểm du lịch gần hà nội là hợp lý nhất. Dưới đây tôi liệt kê 1 vài địa điểm du lịch khá nổi tiếng mang đầy đủ kiến trúc vừa hiện đại mà vẫn giữ nét cổ kính của thời xưa.

1.Đền Sóc ( Sóc Sơn)

Khu du lịch đền sóc
Vị trí: Quần thể di tích Đền Sóc trải từ chân núi lên đến đỉnh núi Vệ Linh, nằm trong địa bàn thôn Vệ Linh, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội
Đặc điểm: Đền thờ Thánh Gióng, một trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.


Đền Sóc

Nằm cách thủ đô Hà Nội 40km về phía Tây Bắc, Sóc Sơn là vùng đất gắn liền với truyền thuyết về cậu bé Dóng huyền thoại, lên ba tuổi mà vẫn chưa biết nói biết cười rồi bỗng vụt lớn thành tráng sỹ đánh đuổi giặc bảo vệ quê hương làng xóm. Tương truyền, chân núi Sóc là nơi Thánh Gióng sau khi đánh đuổi quân xâm lược khỏi bờ cõi nước Nam, đã để lại áo giáp sắt ở lưng chừng núi trước khi bay về trời.

Nói đến kiến trúc của đền Sóc phải kể tới 4 ngôi đền nằm ẩn mình dưới chân núi Vệ Linh. Từ ngoài cổng bước vào là đền Trình, tiếp đến là đền Mẫu, chùa Đại Bi và đền Thượng. Ngoài ra, trên đỉnh núi Vệ Linh còn có nhà bia đã tồn tại hàng trăm năm. Vì mỗi công trình không nằm gần nhau nên du khách phải đi qua những hàng cây, tán lá cổ thụ mới thấy được hình dáng của ngôi đền hoặc chùa tiếp theo.

Đền Trình mở đầu cho một thế giới linh thiêng bằng những gốc đa xù xì, với những pho tượng cổ và thoang thoảng mùi hương. Đặc biệt trên gác đền có viền tường chạy theo hình bậc thang, lượn sóng với những họa tiết cầu kỳ, đẹp mắt. Đi mấy bước qua con đường lát gạch hai bên là chùa Đại Bi. Ngôi chùa nhỏ có lối kiến trúc độc đáo từ mái vòm uốn cong hai đầu, đến những cánh cửa còn nguyên màu sơn son. Bên trong đền được trang trí bởi hoành phi, câu đối đẹp lộng lẫy và uy nghiêm. Đối diện với chùa Đại Bi là đền Mẫu thanh tịnh, nghi ngút khói hương. Phía sau bức tường đền được phủ bởi những lớp đá cuội lồi lõm, gợi cảm giác huyền bí, cổ xưa.

Tâm điểm của tập hợp các di tích này là Đền Sóc (còn gọi là Đền Thượng), nơi thờ đức Thánh Gióng. Đền Sóc nằm trong một vùng rừng núi bao la, bốn mùa cây cối xanh tươi với những khóm tre ngà vàng óng, tương truyền được người tráng sỹ xưa kia dùng làm vũ khí đánh đuổi kẻ thù.

Đền Sóc được xây dựng từ năm 980, thời Tiền Lê (980 – 1009) đến nay đã trải qua 13 lần trùng tu, lần gần nhất diễn ra năm 1992 nhưng vẫn giữ được kiểu dáng kiến trúc, quy mô, vị trí của các công trình. Đền Sóc có quy mô đồ sộ, kiến trúc theo kiểu chuôi vồ. Bên ngoài ngôi đền gồm 5 gian hai chái, phía trong là hậu cung, ngôi đền có cách bài trí sắp xếp mang đậm dấu ấn văn hóa Việt, tạo ra sự linh thiêng nơi thờ cúng thần linh. Trong đền còn có đôi ngựa gỗ tượng trưng cho ngựa sắt năm xưa Đức Thánh cưỡi để dẹp giặc Ân. Đền này cũng được bài trí lộng lẫy, uy nghiêm với hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng. Đây là ngôi đền lớn, mang đậm lối kiến trúc cổ của nhà Phật.

Nếu leo lên đỉnh núi Vệ Linh, du khách sẽ có dịp tới thăm nhà bia. Nếu các nhà bia thường gặp trong đình chùa thường quét vôi thì nhà bia này được xây dựng hoàn toàn bằng đá phiến. Phần thân nhà vững chãi gắn liền với đỉnh hình chóp nón, trông tựa như một chiếc mũ sắt của Đức Thánh Gióng năm xưa.

Đến Đền Sóc, du khách còn có thể tham quan tượng Thánh Gióng. Tượng được đúc bằng đồng nguyên chất, nặng 85 tấn, vươn chéo lên trời với độ dài 16 m, đặt trên đỉnh núi Đá Chồng – đỉnh cao nhất của khu di tích, nơi cậu bé Gióng đã cởi giáp, vẫy chào quê hương, thăng thiên hoá thánh



Tượng Thánh Gióng

Tại khu vực di tích đền Sóc, vào ngày 6 tháng Giêng âm lịch hàng năm, nhân dân trong vùng lại tưng bừng bước vào lễ hội 3 ngày để tưởng nhớ người anh hùng Thánh Gióng (còn tại quê hương của người anh hùng, làng Phù Đổng, Gia Lâm, thì lễ hội diễn ra vào ngày 09/4).

Đền Sóc không chỉ là quần thể di tích linh thiêng thờ vị thánh của dân tộc, mà còn là một khu du lịch văn hóa – sinh thái đặc biệt của thủ đô. Đến nay, Khu di tích lịch sử đền Sóc vẫn giữ được nhiều giá trị lịch sử văn hóa vô giá, góp phần vào công cuộc bảo tồn và phát huy văn hóa Việt Nam, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản Văn hóa cấp quốc gia

2. Việt Phủ Thành Chương

LỊCH SỬ VIỆT PHỦ THÀNH CHƯƠNG

Năm 2001... Một người đàn ông có dáng vẻ phong trần tìm đến vùng đất này của phía Bắc thành phố Hà Nội – Sóc Sơn. Sóc Sơn là một mảnh đất địa linh nhân kiệt ( Xem Sóc Sơn – đường dã ngoại cuối tuần ...) nơi phong cảnh núi rừng, hồ nước và đền, chùa rất xinh đẹp, hữu tình, mà sự phát triển đô thị xô bồ đã không chạm đến. Người đàn ông đó chọn một thế đất tốt ( Xem phong thủy nhà Việt...), trên một triền đồi, và bắt đầu xây dựng ngôi nhà giấc mơ của mình. Người đàn ông ấy chính là nghệ sĩ tạo hình nổi tiếng của Việt Nam –Thành Chương. Người vừa trở về từ Thụy Sỹ, sau chuyến đi mang lại niềm tự hào cho nền hội họa Việt Nam ( Xem Họa sĩ Thành Chương và bức tranh in thành tem của Liên Hợp Quốc năm 2001)

Tháng 8 năm 2001, những gầu đất đá đầu tiên được xúc ủi, đưa mảnh đất đồi trọc khô cằn, vô danh biến thành một “lâu đài Việt” tươi đẹp kì diệu như trong chuyện cổ tích, thành một địa danh nổi tiếng toàn quốc. Là nhà kiến trúc, là tổng công trình sư, ông là tác giả duy nhất của công trình này.

Một ngày ở Việt phủ Thành Chương - “Tư gia
Họa sỹ Thành Chương: "Tôi sẵn sàng chào đón những nhà đầu tư 
có cùng ý chí, tầm nhìn lớn vì một nền văn hóa Việt 
đến chung tay bồi đắp Việt phủ quy mô hơn, tầm cỡ hơn" 
Một không khí xây dựng khẩn trương. Từ nhiều vùng miền khác nhau, nhiều hiệp thợ cùng lúc đến thi công dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông. Thật đáng ngạc nhiên, như có phép mầu, đầu năm 2003, công trình 10 000 m2 đã hoàn tất. Khi đó chỉ chưa có ngôi nhà tranh vách đất và nhà hát rối nước ngoài trời gắn liền với khu ẩm thực. Một tốc độ xây dựng có thể đưa và sách kỉ lục. Kì lạ hơn, phép mầu còn lặp lại cả sau này với việc khởi công xây dựng Tháp Thiên Hương – 2013, công trình tâm linh gần đây nhất của Việt Phủ được xây dựng trong thời gian ngắn chưa từng thấy – 9 ngày.

Việt Phủ Thành Chương trở nên nổi tiếng ngay từ những ngày đầu xây dựng. Du khách khắp nơi thường xuyên kéo đến tham quan bởi sự tò mò, hiếu kỳ, và đặc biệt là bởi qui mô và vẻ đẹp hiện lên mỗi ngày của Việt Phủ. Sự đồn thổi, thực và hư quanh công trình và chủ nhân của nó nhanh chóng lan rộng khắp trong Nam, ngoài Bắc, và cứ như vậy, vì chưa từng có tiền lệ. Ngay cả tên gọi chưa từng có “ Việt Phủ Thành Chương” cũng thu hút sự chú ý và gây tranh luận. Vài người bảo ông điên, nhưng nhiều người khác tin ông là thiên tài.

Với ông, Việt Phủ Thành Chương là một công trình làm theo nghệ thuật và quan điểm của riêng ông về cách lưu giữ và bảo vệ di sản văn hóa. Ông đã làm ra nó với một tinh thần độc lập cao nhất, về quan điểm nghệ thuật, cũng như về chi phí đầu tư. Xưa nay đã chứng minh, ở đâu và thời nào cũng vậy, tư tưởng sáng tạo đi trước thời đại của người nghệ sĩ đích thực thường luôn không dễ hiểu ngay với đại đa số công chúng.

Một bức tranh có thể có bản phác họa. Một công trình kiến trúc cần có bản thiết kế. Nhưng Việt Phủ là một công trình không có bản thảo phác họa, hay bất kỳ một bản thiết kế nào. Đó là sự thực. Cho đến nay, chỉ có một bức ảnh nhỏ, duy nhất do vợ ông chụp, chụp hình ông vẽ phác ngôi nhà ngay trên mặt bàn đá nhằm giải thích cho người thợ cả thi công. Cần một cuốn sách để kể hết về việc xây dựng công trình này của ông. Chắc chắn đó sẽ là cuốn sách rất thú vị.

Hoàn thành toàn diện và tỏa sáng năm 2009. Tư tưởng đi trước thời đại của ông đã cho ra đời một công trình văn hóa mỹ thuật có ý nghĩa quan trọng, đóng góp lớn lao cho vẻ đẹp văn hiến và sự phát triển văn hóa du lịch của thủ đô Hà Nội.


Một số hình ảnh của Việt phủ Thành Chương:































Ngoài ra mọi người có địa điểm du lịch ở hà nội như:


3.Khu du lịch rừng tự nhiên Bằng Tạ


Khu du lịch rừng tự nhiên Bằng Tạ nằm trên một quả đồi thấp, thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội 65km về phía Tây, cách khu du lịch Ao Vua 14km và hồ suối Hai 3,8km.




Với số lượng động thực vật phong phú, Bằng Tạ không chỉ là địa danh thu hút khách đơn thuần mà còn là nơi bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái đa dạng và nghiên cứu thiên nhiên, động vật hoang dã. Tổng diện tích toàn bộ khu du lịch là 26,5ha, trong đó riêng diện tích rừng nguyên sinh hơn 17ha.

Bằng Tạ là rừng nguyên sinh gồm 4 tầng cây khép kín tán. Hiện tại, khu vực Bằng Tạ có các loài chim lặn, hạc, cắt, sếu, bồ câu, cu cu, sả, gõ kiến, sẻ và các loài bướm... Trong rừng nguyên sinh hiện có trên 200 con khỉ, sống theo từng bầy đàn...




Đến với rừng nguyên sinh Bằng Tạ, du khách có thể thuê xe bò kéo, cưỡi ngựa hoặc đi bộ chứ không được phép đi các loại động cơ. Đây là điều rất độc đáo của khu du lịch này. Trong tương lai, khu rừng này sẽ được trồng thêm nhiều loài lan quý như hoàng thảo, địa lan, lan hài..., nuôi thả bán tự nhiên thêm một số loài động vật như nai, hoẵng, lợn rừng, hươu sao, hổ, báo, gấu, linh trưởng... để du khách có thể thỏa sức ngắm nhìn và tìm hiểu cuộc sống của các loài thú hoang dã.

Phía Bắc của rừng là đầm Long, một hồ nước rộng mênh mông được cải tạo thành các hồ sen, tạo cảnh quan môi trường tự nhiên hấp dẫn. Đầm Long là nơi cư ngụ của các loài động vật, bò sát như cuốc, bìm bịp, tắc kè, thằn lằn, kỳ đà họ rắn nước, rắn hổ chúa...Đầm Long không phù hợp lắm với người lớn nhưng lại rất phù hợp với các bé.

Sau khi tham quan rừng nguyên sinh, du khách có thể ra bơi thuyền quanh đầm, thả câu hoặc chèo thuyền tới các khu nhà nổi giữa đầm... Quanh bờ đầm Long là những rặng tre, nơi các loài chim về đậu và làm tổ.






Đến với Bằng Tạ du khách sẽ có cơ hội được hít thở bầu không khí trong lành, dạo chơi cùng những loài vật yêu quý, thưởng thức các đặc sản của vùng rừng núi Ba Vì hay tham quan một quần thể làng của dân tộc Mường với nhiều nhà sàn và các hoạt động văn hóa sinh động như đốt lửa trại, uống rượu cần, nghe ca múa nhạc dân tộc...




Nếu ai đó có nhu cầu dã ngoại, sẽ được cung cấp lều bạt, và được hướng dẫn tận tình khu cắm trại và đốt lửa trại. Trong quần thể khu du lịch này cũng xây dựng một khu chợ quê dùng làm nơi giao lưu văn hóa các dân tộc, bán hàng thổ cẩm, phục vụ đặc sản văn hóa ẩm thực.